Ngoài hệ thống xưởng cưa (có phép và không
phép) bủa vây tứ phía và thuỷ điện Sêrêpốk 4A sắp khởi công, mới đây Vườn Quốc
gia (VQG) Yoók Đôn lại đứng trước những mối nguy khác khi quốc lộ 14C chạy qua
vùng lõi của vườn đang rục rịch khởi động.
Rừng đặc dụng
lớn nhất cả nước đang bị đe doạ, bởi chính các dự án này.
Hệ
sinh thái sẽ "chết" theo sông
VQG Yoók Đôn có diện tích tự nhiên lớn nhất trong hệ thống các khu rừng đặc
dụng của Việt Nam (trên 115.000ha), nằm trên địa bàn 2 tỉnh Đắc Lắc và Đắc
Nông. Đây là một trong những VQG tiêu biểu của thế giới về đa dạng sinh học,
với hệ sinh thái rừng khộp, nhiều loài cây quý hiếm đặc trưng cho rừng nhiệt
đới Đông Nam Á như giáng hương, cẩm lai, gõ đỏ, sao lá tím...
Đoạn sông Sêrêpốk dài 60km qua VQG còn tạo nên một hệ sinh thái đặc trưng khác
- hệ sinh thái rừng bán thường xanh - là nơi bảo tồn nhiều nguồn gene động,
thực vật quý hiếm vào bậc nhất thế giới. Thế nhưng, tất cả đang bị đe doạ bởi
hệ thống xưởng cưa, thuỷ điện, quốc lộ và vô số những điều khác.
Theo hồ sơ thiết kế, thuỷ điện Sêrêpốk 4A sẽ hứng nước trực tiếp từ Nhà máy
thuỷ điện Sêrêpốk 4 ở phía trên VQG, dẫn bằng kênh đào dài 13km vào nhà máy
phát điện của mình, cuối cùng mới trả lại sông Sêrêpốk ở ngoài VQG. Theo Bộ
NNPTNT tại văn bản số 4598 ngày 17.8.2009, thuỷ điện Sêrêpốk 4A sẽ làm cho 20km
sông Sêrêpốk qua VQG Yoók Đôn bị kiệt nước (giảm từ 220m3/s xuống còn
8,23m3/s), ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sinh thái.
Trước những băn
khoăn từ Bộ NNPTNT, cuối tháng 8.2009, Sở Công thương Đắc Lắc đã chủ trì một
cuộc họp báo về thuỷ điện Sêrêpốk 4A. Tại đây, Cty CP thuỷ điện Buôn Đôn (chủ
đầu tư) và đơn vị tư vấn đưa ra báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được
UBND tỉnh Đắc Lắc phê duyệt để khẳng định: Tuy có ảnh hưởng ít nhiều đến VQG
Yoók Đôn, song những cái lợi do công trình thuỷ điện đem lại là rất lớn, vì vậy
không có lý do gì để xem xét lại dự án này.
Mở
đường vào rừng, tăng thêm nguy cơ
Còn quốc lộ 14C, đoạn qua vùng lõi
VQG Yoók Đôn có tổng chiều dài 56km. Về cơ bản, tuyến này chạy dọc đường đất đã
có từ những năm 1986 - 1987, nhưng đến km 265 thì gặp đèo cao (đèo 502). Để
tránh đèo này, chủ đầu tư (Ban quản lý dự án đường bộ V, Cục Đường bộ Việt Nam)
đã quyết định bẻ hướng, hình thành tuyến mới dài 13km cắt sâu vào rừng đặc
dụng, sau đó nhập lại đường cũ tại tiểu khu 452.
Đây là đường cấp 4 miền núi, chiều rộng mặt đường 7,5 mét, với các công trình
bêtông cốt thép có độ bền vĩnh cửu. Mới đây, UBND tỉnh Đắc Lắc cũng đã giao các
cơ quan chức năng tham mưu chuyển mục đích sử dụng 172ha rừng đặc dụng để phục
vụ dự án này. Không thể phủ nhận ý nghĩa kinh tế - xã hội do quốc lộ 14C mang
lại, song con đường này cũng sẽ tạo điều kiện cho lâm tặc tấn công vào VQG Yoók
Đôn. Bởi thực tế, vùng lõi Yoók Đôn được bảo vệ tốt một phần là nhờ sự cách trở
giao thông, đặc biệt là có dòng Sêrêpốk chảy xiết bao quanh.
Sắp tới, việc thi công cầu đường và sau đó là con người, xe cộ rầm rập qua lại
sẽ khiến các loài thú quý hiếm, đặc hữu của VQG - mà trước hết là voi rừng, bò
rừng - không còn hiện hữu ở khu vực này nữa. Riêng mất mát của hệ sinh thái
rừng bán thường xanh, tác động bởi hiện tượng kiệt nước trên sông Sêrêpốk, thì
không có giải pháp nào khắc phục được.
Triển
lãm gồm hai nhóm chủ đề là bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học; những thách
thức, đe dọa và nguy cơ đối với đa dạng sinh học.
Trong khuôn khổ triển lãm còn có các hoạt động đối thoại và định hướng về bảo
tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam.
Theo ông Bùi Cách Tuyến, Tổng Cục trưởng Tổng Cục Môi trường, triển lãm được tổ
chức nhằm góp phần nâng cao nhận thức về đa dạng sinh học, biến đổi khí hậu và
những tác động của nó tới đa dạng sinh học trong cộng đồng các nước ASEAN.
Triển lãm ASEAN về đa dạng sinh học là một trong những hoạt động hưởng ứng Năm
Quốc tế về đa dạng sinh học 2010 với khẩu hiệu “Đa dạng sinh học là sự sống. Đa
dạng sinh học là cuộc sống của chúng ta.”
Việt Nam là đất nước có đa dạng sinh học cao, được xếp thứ 16 trên thế giới.
Tuy nhiên, sự gia tăng dân số, sự du nhập của các sinh vật ngoại lai, tình
trạng ô nhiễm môi trường và khí hậu… đã làm nhiều hệ sinh thái, trong đó có
rừng nguyên sinh - nơi tập trung nhiều loài động thực vật quý hiếm, đặc hữu của
Việt Nam - đã và đang bị suy giảm cả về diện tích và chất lượng.
Để giảm thiểu những tác hại đến hệ sinh thái, ngành lâm nghiệp đã có nhiều nỗ
lực trong công tác bảo tồn đa dạng sinh học như thành lập Quỹ bảo tồn Việt Nam
(VCF), xây dựng và ban hành các nghị định về tổ chức quản lý hệ thống rừng đặc
dụng, về chi trả dịch vụ môi trường rừng./.
“Biến đổi khí hậu là nguy cơ lớn nhất ảnh hưởng tới Khu dự
trữ sinh quyển Mũi Cà Mau. Dự báo, vùng Nam Bộ đến năm 2020, mực nước biển sẽ
dâng thêm 0,3m. Theo tính toán, nếu nước biển dâng đến 0,7m thì diện tích tỉnh
Cà Mau sẽ bị ngập tới 28%, tập trung tại các vùng trũng thuộc khu dự trữ sinh
quyển này”, đó là nhận định của ông Nguyễn Tiến Hải, Phó chủ tịch UBND tỉnh Cà
Mau trước sự bất thường của thời tiết vùng cực nam đất nước từ đầu năm tới nay.
Ông Lý Văn Nhạn, Ban quản lý khu dự trữ sinh quyển Mũi Cà Mau, cũng cho
biết: thực tế những năm gần đây, khu dự trữ sinh quyển Mũi Cà Mau đã bị
“tàn phá” bởi nhiệt độ tăng, nước biển dâng, xâm nhập mặn.
Ngoài ra, trên 170.000 cư dân sông nước sống trong ở Mũi Cà Mau, nếu không có ý
thức bảo vệ thiên nhiên cũng sẽ gây hại đến khu dự trữ sinh quyển này.
“Chỉ riêng 2.000 hộ là dân di cư tự do ở đê biển Tây do thiếu việc làm thiếu ổn
định, vẫn sống nhờ khai thác các nguồn lợi tự nhiên cũng làm tăng thêm mối nguy
cho sự xâm hại khu dự trữ sinh quyển”, ông Nhạn nói.
Theo ông Nhạn, để bảo tồn hiệu quả khu dự trữ sinh quyển này, Cà Mau cần phải
đưa ra chương trình thích ứng với biến đổi khí hậu. Chính quyền tỉnh cũng sẽ
gấp rút quy hoạch, sắp xếp lại dân cư ven biển, phát huy năng lực cộng đồng
trong bảo vệ, gìn giữ môi trường sinh thái, ngăn chặn gấp các hành vi xâm hại
trực tiếp đến tài nguyên.
Khu dự trữ sinh quyển Mũi Cà Mau có diện tích hơn 371.500 ha, gồm 3
vùng chức năng: vùng đệm, vùng lõi và vùng chuyển tiếp (gồm vườn quốc gia
Mũi Cà Mau, rừng phòng hộ và bãi bồi ven biển Tây). Đây là nơi có quần xã thực
vật đặc trưng của hệ sinh thái, đồng thời là nơi cư trú, bãi đẻ và nuôi dưỡng
ấu trùng của các loài thủy hải sản khu vực vịnh Thái Lan.
Rừng phòng hộ ven biển Tây có cấu trúc đặc biệt về địa chất, với bờ biển thẳng,
là cầu giữa 2 hệ sinh thái đặc trưng ở bán đảo Cà Mau, rừng ngập mặn và rừng
tràm. Nhiều loài thực vật trong rừng ngập mặn là đại diện độc đáo cho các kiểu
rừng thuần loại và hỗn giao, một số loài động vật được ghi trong sách đỏ của
thế giới.
Nguồn:HỘI BẢO VỆ THIÊN NHIÊN VÀ MÔI TRƯỜNG VIỆT NAM
Cụ thể, mục tiêu của giai đoạn 2010 - 2015 là thiết lập và
đưa vào hoạt động 16 khu bảo tồn biển (Đảo Trần, Cô Tô, Bạch Long Vĩ, Cát Bà,
Hòn Mê, Cồn Cỏ, Hải Vân - Sơn Trà, Cù Lao Chàm, Lý Sơn, Nam Yết, Vịnh Nha
Trang, Núi Chúa, Phú Quý, Hòn Cau, Côn Đảo, Phú Quốc); đến năm 2015 có ít nhất
0,24% diện tích vùng biển Việt Nam nằm trong các khu bảo tồn biển và khoảng 30%
diện tích của từng khu bảo tồn biển được bảo vệ nghiêm ngặt; giai đoạn 2016 -
2020 mục tiêu là nghiên cứu, đề xuất quy hoạch phát triển mở rộng hệ thống khu
bảo tồn biển; điều tra, khảo sát, thiết lập và đưa vào hoạt động một số khu bảo
tồn biển mới. Một trong những quan điểm thực hiện Quy hoạch này là từng bước đa
dạng hóa các hình thức đầu tư nhằm khuyến khích, thu hút các nhà đầu tư trong
và ngoài nước, các nhà khoa học, các tổ chức quốc tế, đồng thời khuyến khích sự
tham gia quản lý của cộng đồng dân cư ven biển và hải đảo để quản lý có hiệu
quả, bền vững các khu bảo tồn biển.
Tổng nhu cầu vốn đầu tư dự kiến là 460 tỷ đồng, trong đó
giai đoạn 2011 - 2015 dự kiến là 300 tỷ đồng bao gồm nguồn vốn ngân sách trung
ương 185 tỷ đồng, nguồn vốn ngân sách địa phương 90 tỷ đồng, vốn hỗ trợ của các
tổ chức quốc tế, phi chính phủ là 25 tỷ đồng. Vốn đầu tư cho giai đoạn 2016 -
2020 dự tính khoảng 160 tỷ đồng, trong đó nguồn vốn ngân sách trung ương 145 tỷ
đồng, vốn hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, phi Chính phủ là 15 tỷ đồng.
Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.
Xin vui lòng BẤM VÀO ĐÂY
để tải nội quy quyết định về máy.
Kết quả giám định của Cơ quan điều tra Công an
Đồng Nai cho thấy, trong bao tử của 6 voi chết đều có chất phốt pho, một chất
có trong thành phần thuốc bảo vệ thực vật.
Ông Trần Văn Mùi, Giám đốc Khu bảo tồn thiên
nhiên và di tích Vĩnh Cửu nhận định, có khả năng vì tiếc của do voi phá
mùa màng mà một số người dân đầu độc voi. Ông Lê Việt Dũng, Phó Chi
cục trưởng Chi cục kiểm lâm Đồng Nai cũng tiên đoán, nhiều khả năng người dân
đã phun xịt thuốc lên vườn cây, voi vô tình ăn phải nên bị ngộ độc hoặc voi đã
bị “cài” một loại thuốc cực độc.
Đại tá Nguyễn Phi Hùng, Phó Giám đốc Công an
Đồng Nai, chủ trì cuộc họp đã yêu cầu Cơ quan điều tra phối hợp cùng kiểm lâm
và Khu bảo tồn nhanh chóng làm rõ vụ việc.
Trao đổi thêm về vấn đề này, nhiều chuyên gia
cho rằng, muốn hạn chế tình trạng voi chết hoặc bị sát hại, cần tìm biện pháp
hòa giải mâu thuẫn xung đột giữa voi và người. Tuy nhiên, trên thực tế, điều
này khó có thể làm được vì lượng dân cư ở xung quanh vùng hoạt động của voi
thường rất lớn (tại Đồng Nai, khoảng 925 hộ với 2.723 nhân khẩu sống gần vùng
voi ở), không thể tiến hành di dân. Ngược lại, cũng không thể di dời đàn voi vì
các diện tích rừng khác không đủ lớn và phù hợp để voi có thể sinh sống. Nếu cố
tình áp dụng bài toán này, chúng ta sẽ sớm thất bại như đã từng làm ở Tánh
Linh, Bình Thuận.
Theo nguồn tin từ Lao Động ngày 2/6, tại xã Phú
Lý, huyện Vĩnh Cửu, Đồng Nai, năm 2007, voi bắt đầu phá nông sản nhưng mức độ
chỉ trung bình. Năm 2008, xung đột đã tăng cao khi voi phá hoạt mùa màng, gây
thiệt hại cho người dân gần 400 triệu đồng. Năm 2009, voi tiếp tục gây thiệt
hại trên 476 triệu đồng. Tại xã Mã Đà, năm 2008 chỉ xảy ra 14 vụ thì sang năm
2009, số vụ voi vào tấn công đã tăng gần gấp 3 (44 vụ).
Xác một con tê giác Javan tại Vườn quốc gia Cát Tiên
Đây
là một trong 2 cá thể hiếm hoi của loài này được xác định còn tồn tại trên trái
đất. Hiện phân loài này cũng chỉ được tìm thấy ở Việt Nam. Ngoài ra, trên thế
giới cũng chỉ còn phân loài của tê giác Javan: Phân loài còn nhiều nhất chỉ
sống ở Vườn quốc gia Ujung Kulon (Java, Indonesia) với xấp xỉ 40 đến 60 cá thể
còn sống. Một phân loài khác chỉ tìm thấy ở Bengal, Assam và Myanmar hiện đã
tuyệt chủng.
Con
tê giác Javan này được cho là đã bị giết bởi những người săn trộm sau khi
một cuộc thử nghiệm khoa học được thực hiện bởi WWF và các nhà chức trách của
vườn quốc gia. Con tê giác đã bị bắn chết, sừng đã bị lấy đi. Sừng tê giác là
một mặt hàng giá trị cao trong thị trường động vật hoang dã phi pháp, với lớp
vỏ và cặn được dùng như một loại thuốc.
Những
người dân địa phương thông báo việc tìm thấy xác của loài động vật có vú lớn
này đến các nhà chức trách của vườn quốc gia vào ngày 29/4. Loài tê giác này đã
được liệt kê trong Sách Đỏ những loài động vật quí hiếm cần được bảo vệ vào năm
2009.
Được
biết, WWF vừa mới kết thúc một cuộc khảo sát tại nhiều nơi trên thế giới, dùng
những chú chó nghiệp vụ từ Anh để tìm phân tê giác. Những mẫu phân này sẽ được
phân tích DNA để tìm ra chính xác tình trạng dân số của loài này.
Kết
quả của cuộc điều tra chưa được công bố cho đến cuối năm nay. WWF sẽ gửi mẫu
được lấy từ xương chú tê giác đã chết tại Vườn quốc gia Cát Tiên đến Đại học
Queen ở Canada để phân tích xem DNA có trùng với bất cứ mẫu phân nào được tìm
thấy trong cuộc khảo sát số lượng loài tê giác trên không.
LTS:Thời gian gần đây, báo chí và
tại diễn đàn Quốc hội nhiều ý kiến đã bày tỏ quan ngại về việc một số rừng đầu
nguồn, rừng nguyên sinh bị tổn thương nghiêm trọng bởi sự phát triển tràn lan
của các đập thuỷ điện lớn, nhỏ.Giới khoa học cũng nhiều lần cảnh báo,
nếu không thận trọng, trong tương lai gần chúng ta phải trả giá đắt khi môi
trường bị tàn phá. Để rộng đường dư luận, Tuần Việt Nam xin giới thiệu bài viết
5 kỳ của CTV Hoàng Xuân về hiện trạng đập thuỷ điện tại một số khu vực rừng đầu
nguồn.
Vườn
quốc gia Nam Cát Tiên cách ngã ba km 125 quốc lộ 20 đi Đà Lạt đúng 24 km, cách
TP HCM khoảng 160 km.
Sau
những trận mưa sớm đầu mùa, bướm từng đàn bay lẫn với nắng trong Vườn. Ngay
bước chân đầu tiên đặt xuống bến đò vào Vườn, khách du ngoạn sẽ được thưởng
thức một cảnh tượng khó quên. Đó là cảm giác của vị Hương phi nổi tiếng trong
bộ phim Hoàn Châu cách cách khi mỗi bước chân đều đi giữa một đàn bướm rập rờn.
Những cánh bướm xanh thẫm óng ánh những cái vảy tí xíu màu cổ vịt hoặc
màu lá non, thỉnh thoảng điểm một cánh bướm màu lửa hớn hở, hàng trăm hàng ngàn
con lúc đậu san sát nhau trên một khoảnh đất nhỏ bằng chiếc gối sát mép nước,
lúc tung cánh trên những khóm cây bụi.Cát Tiên, tên chính thức là Vườn bảo tồn
quốc gia, dân quanh vùng gọi là Rừng cấm, là một mảnh rừng hiếm hoi còn sót lại
gần TP HCM.
Con
sông Đồng Nai chảy qua Vườn khoảng 90 km, bao quanh khoảng 1/3 ranh giới Vườn,
tạo thành ranh giới tự nhiên chia cắt Vườn với khu dân cư sống sát đó. Vườn
trải rộng trên ba tỉnh Đồng Nai, Lâm Đồng và Bình Phước. Nhờ lượng nước của con
con sông này mà Bàu Sấu trong Vườn được Ban thư ký công ước Ramsar công nhận là
Vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế vào năm 2005. Năm 2001, Ủy ban
Unesco quốc tế đã công nhận Vườn quốc gia Nam Cát Tiên là khu dự trữ sinh quyển
thứ 411 của thế giới.
Song,
nhiều nhà khoa học và chính những người đang trực tiếp quản lý, bảo tồn Rừng
cấm đang hết sức lo lắng trước thực tế rừng dần dần mất đi trước sự tàn phá của
con người.
Trên
bản đồ, Vườn quốc gia Nam Cát Tiên đang bị bao vây bởi hàng loạt dự án thủy
điện. Chưa kể các nhà máy thủy điện đã hoạt động lâu nay, còn có dự án thủy
điện Đồng Nai 5, công suất 173 MW, sẽ khởi công trong năm nay. Đồng Nai 6 công
suất 180 MW đã được chính phủ đồng ý bổ sung và chia thành Đồng Nai 6 (135 MW),
Đồng Nai 6A (106 MW) đang làm thủ tục triển khai. Đồng Nai 8, công suất 195 MW
(đang đề nghị chia thành 5 công trình với công suất 164 MW). Đồng Nai 7 (Đạ
Kho) và Đức Thành (Đabôngcua) đang đề nghị bổ sung quy hoạch.
Tất
cả các công trình thủy điện này nằm trên 100 km dọc sông Đồng Nai từ thượng
nguồn đến hạ nguồn VQG. Trong đó, Dự án thủy điện Đồng Nai 6, 6A nằm ngay trong
vùng đệm và lấn sang vùng lõi Vườn quốc gia Nam Cát Tiên, còn dự án thủy điện
Đức Thành chỉ cách ranh giới Vườn 600 m.
"Các
dự án thủy điện trên đe dọa công tác bảo vệ rừng, bảo tồn tài nguyên đa dạng
sinh học, bảo vệ môi trường sinh thái, cảnh quan, các vùng đất ngập nước và các
loài động thực vật đặc hữu, quý hiếm ở Vườn quốc gia Nam Cát Tiên"-ông
Nguyễn Văn Thành, giám đốc Vườn quốc gia Nam Cát Tiên cảnh báo.
Theo
quy định, các dự án thủy điện có ảnh hưởng đến Vườn quốc gia Nam Cát Tiên, đơn
vị đầu tư phải gửi báo cáo đánh giá tác động môi trường đến để nơi này có ý
kiến.
Nhưng
theo ông Nguyễn Văn Thanh, trưởng phòng kỹ thuật Vườn quốc gia Nam Cát Tiên,
"họ chỉ đánh giá những tác động mang phụ, tạm thời như bụi, tiếng ồn khi
nổ mìn, sự di cư của thủy sinh lên xuống.. mà phớt lờ những tác động về xâm hại
vùng lõi rừng bảo tồn, thay đổi toàn bộ hệ sinh thái trong rừng bảo tồn"."Tóm
tắt dự án thủy điện Đồng Nai 5 (do tập đoàn Than-khoáng sản Việt Nam đầu tư)
còn y nguyên dấu sao chép, cắt dán từ tài liệu khác mà không chỉnh sửa. Như
trong chương 2, mục 2.1 (trang 5 - 11), tóm tắt nêu ra một loạt những địa
danh... sông Mã, Quốc lộ 15A, Khu BTTN Xuân Nha, Pù Hu.. Đây là sao chép nguyên
bản của đánh giá tác động môi trường trên sông Mã, tít ngoài Bắc".
"Dự
án Đức Thành thì nói khi họ xây dựng, các tuyến đường trong vùng thủy điện sẽ
giúp Vườn quản lý tốt hơn. Trời, tuyến giao thông nằm sát lõi rừng bảo tồn thì
chỉ giúp lâm tặc vô phá rừng tốt hơn chứ quản lý cái gì".
"Vậy
nhưng khi chúng tôi gửi ý kiến đi thì chẳng thấy họ phản hồi, kể cả chủ đầu tư
lẫn cơ quan chủ quản cấp trên. Họ cứ tiếp tục trình lên các cấp trên. Thậm chí
dự án được duyệt rồi mà Vườn cũng không biết. Chỉ đến khi họ đến khoan thăm dò
trên vùng rừng của mình, chúng tôi mới biết. Hoặc là biết qua nguồn
khác"-ông Thanh nói.
Từ nhiều năm nay, Vườn quốc gia Nam
Cát Tiên được chú ý hơn vì phát hiện có tê giác một sừng sinh sống và đang có
nguy cơ tuyệt chủng (khu vực Cát Lộc, huyện Cát Tiên, Lâm Đồng). Tuy vậy, hơn
chục năm đã qua, các nhà khoa học quốc tế vẫn chưa khảo sát được còn bao
nhiêu cá thể tê giác, thuộc loài nào và giới tính ra sao để vạch kế hoạch bảo
tồn chi tiết. Song dự án thủy điện Đồng Nai 5, nằm sát nách khu vực bảo
tồn tê giác vẫn được duyệt.
Tuyến
đập của Đồng Nai 5 thuộc địa phận xã Đắc Sin, huyện Đắc Rlấp, tỉnh Đắc Nông (bờ
phải) và xã Lộc Bắc, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng (bờ trái).Ngay trong báo cáo
đánh giá tác động môi trường của dự án này cũng ghi rõ: sẽ có khoảng 445 ha
rừng kín thường xanh bị ngập và bị trưng dụng cho việc xây dựng (số liệu của
Trung tâm tư liệu thuộc bộ Tài nguyên và môi trường). Tất cả diện tích rừng này
đều nằm trong phân khu rừng phòng hộ Vườn Cát Tiên, là, trong đó có
khoảng 95% là rừng kín thường xanh có trữ lượng cao. Một số loài thực vật quý
hiếm sẽ bị chặt phá. Về động vật, "một số loài họ mèo sẽ phải thu hẹp địa
bàn hoạt động, một số loài động vật ở khu vực ven sông, suối sẽ mất nơi kiếm
ăn. Các loài động vật cư trú trong hang hốc có thể bị chết ngạt khi dâng nước
hồ, chúng phải di chuyển lên cao hơn hoặc đi nơi khác kiếm ăn khiến tập tính và
cuộc sống bị xáo trộn."
"Các
tuyến giao thông, các khu phụ trợ mới xây dựng có thể làm chia cắt các tuyến di
chuyển của các loài động vật hoang dã. Các quần thể động vật hoang dã khó liên
hệ được với nhau. Việc khai thác vật liệu xây dựng (đất đá, gỗ..) chắc chắn sẽ
làm thu hẹp sinh cảnh sống của một số loài động vật hoang dã".
Báo cáo nêu rõ như vậy, nhưng kết
luận hoàn toàn ngược lại: "Thuận lợi là Vườn Cát Tiên chỉ cách khu vực
công trường 1 km. Các loài động vật hầu hết sẽ di chuyển đến đó".
Trong
văn bản trả lời tập đoàn Than-khoáng sản Việt Nam, lãnh đạo Vườn quốc gia Nam
Cát Tiên cho biết, hiện nay việc khai thác cát trên sông Đồng Nai khu vực
Vườn Quốc gia Cát Tiên đang diễn ra phức tạp, đã gây sạt lở nhiều đoạn bờ sông,
làm tăng độ đục của dòng sông và phá hủy nơi đẻ trứng của các loài cá, ngoài ra
xuồng hút cát còn tiếp tay cho các vụ xâm phạm rừng.
"So
với những năm trước, khi thủy điện Đồng Nai 3, Đồng Nai 4 chưa khởi công, mực
nước thấp hẳn đi. Thường vào mùa mưa nước sông lên tới tận đường đi hay lên tới
thềm khu nhà xây (khu trụ sở Vườn Cát Tiên), nhưng năm nay nước chỉ mấp mé bậc
bê tông của bến đò. Chuyện này trước kia chưa bao giờ có"-một cán bộ kiểm
lâm Vườn quốc gia Nam Cát Tiên nhận xét.
Ảnh
hưởng của thủy điện tới rừng đầu nguồn là ảnh hưởng của cả một hệ thống
"thập diện mai phục". Nhưng báo cáo đánh giá tác động môi trường thì
chỉ lập theo từng dự án, nên khá dễ dàng để chỉ nhìn thấy ích lợi (đặc biệt cho
địa phương) trong đó, còn tác hại thì đã bị cắt nhỏ.
Vẫn
trong báo cáo đánh giá tác động môi trường của thủy điện Đồng Nai 5: "chế
độ hoạt động ngày đêm của hồ chứa sẽ gây tác động tiêu cực đến thủy sinh ở hạ
du dòng chính" nhưng vớt vát "nếu không có Đồng Nai 5 thì Đồng Nai 4
với chế độ điều tiết ngày đêm cũng gây nên sự bất ổn định ở dòng chính hạ du".
Cụ thể, trong một ngày ít nhất có 4giờ 35 phút dòng chảy tại đoạn sông 20 km
sau đập Đồng Nai 5 không đáp ứng đủ nhu cầu dòng chảy môi trường (4,3 m/s).
Trong số đó có từ 5 - 6 con voi đực trưởng thành
có ngà và 4 - 5 con voi con.
Đây là lần đầu tiên Vườn quốc gia York Đôn xuất
hiện một đàn voi rừng có số lượng cá thể đông và có kết cấu bầy đàn đa dạng,
nhiều như vậy.
Theo ông Trưởng, đa dạng sinh học của Vườn quốc
gia York Đôn ngày càng tốt lên nên mới thu hút được đàn voi rừng đông đảo di cư
đến Vườn.
Vườn quốc gia York Đôn đã phối hợp chặt chẽ với
các địa phương, các đơn vị chức năng tăng cường kiểm tra, kiểm soát, nhất là
các khu vực có đàn voi rừng đang sinh sống. Vườn cũng tuyên truyền để đồng bào
sinh sống gần rừng đề cao cảnh giác và sử dụng các biện pháp truyền thống như
gây tiếng ồn lớn, đốt lửa xua đuổi mỗi khi đàn voi rừng về gần các khu dân cư.
Rừng đặc dụng ở Đắc Lắc đang bị suy giảm đa dạng sinh học
Tỉnh
Đắc Lắc có 6 Vườn quốc gia và Khu bảo tồn thiên với tổng diện tích gần 240.000
ha. Đây là những khu rừng đặc dụng phát triển các vùng sinh thái khác nhau và
có nhiều động thực vật quý hiếm đang được tâm trung bảo vệ nghiêm ngặt. Dưới
tác động của con người diện tích rừng bị thu hẹp nhanh, nguồn lâm sản bị suy
kiệt, nhiều nơi thảm thực vật mất và trở thành vùng đất trống.
Hiện
nay, tài nguyên lâm sản chỉ còn tập trung tại các Khu rừng đặc dụng. Do vậy,
các Khu rừng đặc dụng là đối tượng bị xâm hại nhiều, ảnh hưởng đến tính đa dạng
sinh học của rừng.
Vườn
quốc gia Yor Đôn nằm trên địa bàn huyện Buôn Đôn và Ea Súp với diện tích
115.000 ha lớn nhất cả nước. Đây là khu rừng đặc trưng cho vùng nhiệt đới, có
diện tích rừng khộp rộng lớn, rất phong phú các loài động, thực vật; trong đó
có nhiều thực vật quý và động vật được ghi trong sách đỏ thế giới. Trong những
năm gần đây, khu vực lõi Vườn quốc gia thường xuyên bị xâm hại, hàng ngàn cây
gỗ quý như: giáng hương, cẩm lai, cam xe bị lâm tác chặt hạ, làm cho nhiều nơi
rừng trở nên trống rỗng.
Do
bị săn bắn bừa bãi, loài bò xám là loại động rất quý của thế giới nay đã tuyệt
chủng. Các loại bò tót, bò rừng, gấu, báo cùng các loại chim quý cũng đang bị
săn bắn trộm thường xuyên. Rừng bị thu hẹp, nguồn thức ăn cũng khó khăn hơn,
nên đàn voi rừng thường xuyên ra khỏi vườn quốc gia và đi đến phá hoại hoa màu
của dân cư trong vùng Ea Súp.
Vườn
quốc gia Cư Yang Sin là khu rừng phát triển trên núi cao có nhiều động thực vật
quý hiếm, đặc trưng cho vùng nhiệt đới. Tuy rừng đã được bảo vệ, nhưng lâm tặc
thường xuyên chặt trộm gỗ pơ mu, khai thác dược liệu, săn bắn các loại động vật
quy như voọc chà vá, beo lửa cùng với các loại động vật khác. Hiện nay, rừng
đang chịu tác động của nạn khai thác lâm sản trộm, đe doạ đến sự đa dạng sinh
học.
Khu
bảo tồn thiên nhiên Ea Sô là khu đa dạng sinh học trước đây được coi là nơi có
đàn động vật hoang dã phong phú nhất Việt Nam . Trong dăm bảy năm trở lại đây,
rừng thường xuyên bị xâm hại, vượt quá tầm kiểm soát của cơ quan chức năng,
đang làm giảm đáng kể nguồn tài nguyên và sự suy giảm độ che phủ rừng.
Các
loại động vật quý như bò tót, bò rừng, hổ, báo, các loại chim quý thường xuyên
bị săn trộm, nay đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng. Loại hươu đầm lầy là
động vật rất quý hiếm trước đây có vài cá thể, nay không còn xuất hiện. Các
loại gỗ giáng hương, trắc, cẩm lai bị chặt trộm thường xuyên, nay còn lại những
cây gỗ nhỏ với số lượng không nhiều.
Thời
gian gần đây, tại địa bàn xã Cư Prao (huyện M’đắc) ngành điện lực xây dựng Công
trình thuỷ điện Krông H’năng (64 MW), tạo hồ nước lớn gây ngập hàng chục héc
rừng đặc dụng Khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô, đã ảnh hưởng đến việc giữ rừng và
bảo vệ đàn động vật hoang dã trong khu rừng.
Các
khu bảo tồn thiên nhiên Ea Ral (huyện Ea H’leo) và Trấp Ksơr (Krông Buk) là nơi
bảo tồn số lượng ít ỏi những cây thuỷ tùng là loại thực vật đặc hữu chỉ có tại
những nơi đây. Là loại thực vật rất quý và trên thế giới chỉ có tại những nơi
này, nhưng vẫn thường xuyên bị lâm tặc chặt trộm để làm hàng gỗ mỹ nghệ cao
cấp. Do vậy, việc bảo loại thực vật quý này là vấn đề cấp bách; đồng thời phải
xử lý nghiêm những kẻ vi phạm để bảo vệ tài nguyên rừng.
Diện tích thiệt hại vẫn chưa được thống kê chính
xác, nhưng ước tính không dưới 100ha. Đây được xem là vụ cháy rừng lớn nhất
trong mùa khô này, ông Cường cho biết.
Địa phương đã huy động gần 1.000 người, trong
đó có công an, quân đội, nhân viên kiểm lâm, nhân dân địa phương tham gia
chữa cháy; hàng chục máy bơm nước có công suất lớn, xe cứu hỏa đến nơi xảy ra
cháy ở tiểu khu 20-21 phân trường Sông Trẹm thuộc Công ty lâm nghiệp U Minh
Hạ, nằm ở huyện Thới Bình, giáp ranh với tỉnh Kiên Giang.
Vụ cháy rừng này được phát hiện vào trưa 1/5 và
đã được lực lượng chữa cháy kịp thời dập tắt về cơ bản. Tuy nhiên đến trưa 2/5
ngọn lửa lại bùng phát và lây lan trên diện rộng, phán tán thành cháy lớn. Do
khô hạn kéo dài, nắng nóng, cộng với gió thổi mạnh nên việc chữa cháy rừng gặp
nhiều khó khăn.
Từ đầu mùa khô đến nay, rừng tràm U Minh Hạ Cà
Mau đã xảy ra 10 vụ cháy, nhưng được phát hiện sớm nên đã dập tắt liền do đó
thiệt hại không đáng kể./.
Theo nghiên cứu, hiện trong khu vực rừng đặc
dụng Yên Tử còn chứa đựng nhiều nguồn gen động, thực vật quý hiếm gồm 5 ngành
thực vật với 830 loài, trong đó có 38 loài thực vật đặc hữu quý hiếm như lim
xanh, táu mật, lát hoa, thông tre, la hán rừng, vù hương, kim giao...
Nơi đây có hệ động vật đa dạng và phong phú,
trong đó có 23 loài đặc hữu quý hiếm được ghi trong Sách đỏ Việt Nam như voọc
mũi hếch, sóc bay lớn, ếch gai, ếch ang... có giá trị cao trong việc bảo tồn
nguồn gen, nghiên cứu khoa học, giáo dục và du lịch.
Rừng đặc dụng Yên Tử có với tổng diện tích
2.687ha, trong đó có 1.736ha rừng tự nhiên.
Việc nâng cấp Rừng đặc dụng Yên Tử thành Vườn quốc
gia Yên Tử sẽ đẩy mạnh hơn
nữa việc bảo vệ, tôn tạo các di tích lịch sử, văn hóa, cảnh quan môi trường
cùng như bảo tồn và phát triển các mẫu chuẩn hệ động thực vật, bảo vệ sự đa
dạng sinh học, các nguồn gen động, thực vật quý hiếm./.
Với tổng diện tích trên 371.000 ha, Cà Mau bao
gồm 3 vùng trọng yếu là U Minh Hạ, vườn quốc gia Đất Mũi và tuyến rừng phòng hộ
ven đê biển Tây. Nơi đây có một hệ sinh thái động thực vật phong phú và đa
dạng, với hàng nghìn loài. Trong đó có nhiều loại động vật được ghi vào sách đỏ
Việt Nam và thế giới như: khỉ đuôi dài, bồ nông chân xám, rẻ mỏ cong hông
nâu...
Theo ông Trần Phú Cường, Giám đốc Sở Khoa học và
Công nghệ tỉnh Cà Mau, vùng đất Cà Mau còn là bãi đẻ, ương dưỡng ấu trùng của
các loài hải sản mới để cung cấp nguồn giống tự nhiên đa loài cho cả vùng rộng
lớn trong vùng biển Vịnh Thái Lan.
"Thành tích này là một vinh dự mà cũng là
trách nhiệm đối với cán bộ và nhân dân trong tỉnh. Chúng tôi phải lên kế hoạch
bảo tồn và phát triển những tài nguyên, nhằm làm giảm sự ảnh hưởng của biến đổi
khí hậu lên vùng đất này" ông Cường nói.
Trước đó, tháng 5/2009, tại kỳ họp thứ 21 của Ủy
ban Điều phối Quốc tế về chương trình Con người và Sinh quyển của UNESCO tại
Hàn Quốc, Mũi Cà Mau được xét duyệt với 100% số phiếu của các đại diện tham dự.
Đây là vùng ngập mặn lớn nhất Việt Nam và nổi tiếng trên thế giới về năng suất
sinh học cao nhất trong các hệ sinh thái rừng tự nhiên.
Việc công nhận này đồng nghĩa với việc Mũi Cà
Mau đã chính thức gia nhập vào mạng lưới 554 khu dự trữ sinh quyển của 107 quốc
gia trên thế giới.
Lễ công bố Mũi Cà Mau được công nhận là Khu dự
trữ sinh quyển thế giới sẽ được lãnh đạo tỉnh tổ chức trong "Tuần lễ văn
hóa - du lịch Đất Mũi" vào ngày 24/4 tại tỉnh.
Khánh thành trung tâm bảo tồn rùa đầu tiên ở Đông Nam Á
Trung tâm thông tin về các loài rùa cạn và rùa
nước ngọt Việt Nam, được khánh thành ngày 10/3, nhằm hỗ trợ công tác bảo tồn
các loài rùa.
Nằm trong khuôn viên của Trung tâm Bảo tồn Rùa
thuộc Vườn Quốc gia Cúc Phương thuộc tỉnh Ninh Bình, trung tâm trưng bày các bảng
diễn giải, bể nuôi rùa nước ngọt, phòng ấp trứng, phòng nuôi rùa non, mô hình
lều và các con đường mòn của thợ săn trong rừng.
“Chúng tôi hy vọng trung tâm thông tin về rùa sẽ
giúp cho cộng đồng hiểu rõ hơn về các loài rùa và những nguy cơ mà chúng đang
phải đối mặt do nạn săn bắt và buôn bán trái phép hiện nay”, ông Bùi Đăng
Phong, Phó Giám đốc Trung tâm Cứu hộ&Bảo tồn Động Thực vật Hoang dã Quý
hiếm - Vườn Quốc gia Cúc Phương, cho biết. “Các loài rùa của Việt Nam đang bị
săn bắt tới mức gần như tuyệt chủng. Sự tồn tại của nhiều loài rùa hiện nay phụ
thuộc vào việc công chúng nhận thức được vấn đề này và cùng góp sức bảo vệ
rùa”.
Song song với sự kiện trung tâm thông tin rùa
chính thức đi vào hoạt động, Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên (ENV) phát hành hai
tài liệu quan trọng hỗ trợ các cơ quan chức năng trong nỗ lực giảm thiểu nạn
buôn bán rùa trái phép. Các tài liệu bao gồm một bộ phim ngắn với tiêu đề
“Những mối hiểm họa đối với các loài rùa châu Á” cung cấp cho các cán bộ kiểm
lâm và các nhà quản lý khu bảo tồn thông tin về các loài rùa cũng như những mối
đe dọa mà chúng đang phải đối mặt và những hành động cần thiết để bảo vệ chúng.
Tài liệu thứ hai là hướng dẫn định đạng các loài rùa bao gồm ảnh và các
thông tin định dạng chi tiết của 25 loài rùa cạn và rùa nước ngọt của Việt Nam.
Tài liệu hướng dẫn định dạng cũng đưa ra những khuyến cáo trong việc bảo vệ
những loài đặc biệt nguy cấp.
Việt Nam được coi là một trong những điểm nóng
quan trọng về đa dạng rùa ở Châu Á với 25 loài rùa cạn và rùa nước ngọt, bao
gồm 20 loài rùa mai cứng và năm loài rùa mai mềm. Việt Nam là quê hương của ít
nhất hai loài rùa đặc hữu cũng như loài rùa Hoàn Kiếm (Rafetus swinhoei) huyền
thoại, một trong những loài rùa nổi tiếng và quý hiếm nhất trên thế giới.
Nạn săn bắt và buôn bán rùa phục vụ chủ yếu cho
nhu cầu về thức ăn và thuốc chữa bệnh từ dân Trung Quốc đang đe doạ sự tồn tại
của các loài rùa ở Việt Nam.
Nhiều bằng chứng cho thấy số lượng của hầu hết
các loài rùa trong tự nhiên của Việt Nam đã giảm đáng kể trong 15 năm qua do
một số lượng lớn rùa đã bị bắt và bán trái phép sang Trung Quốc. Các quần thể
rùa còn lại trong tự nhiên bị chia cắt và suy giảm nghiêm trọng.
Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên đã ghi nhận 434
vụ săn bắt, buôn bán và vận chuyển trái phép các loài rùa cạn và rùa nước ngọt
từ năm 2005. Trong số này bao gồm 163 vụ buôn lậu với tổng trọng lượng ước tính
hơn 25 tấn rùa tương đương số lượng hơn 3.000 cá thể rùa.
Con số trên có thể chỉ là một phần nhỏ các vụ
buôn bán rùa trái phép đã được các cơ quan thực chức năng phát hiện và xử
lý. Con số thực tế có thể còn cao hơn nhiều lần.
“Chúng tôi khuyến khích cộng đồng chung tay bảo
vệ loài rùa của chúng ta trước khi quá muộn”, bà Nguyễn Thị Vân Anh – Quản lý
Chương trình Bảo vệ Động vật Hoang dã của ENV, phát biểu, “Nếu không có sự ủng
hộ của cộng đồng, các cơ quan chức năng không thể ngăn chặn thành công các loài
rùa khỏi nguy cơ tuyệt chủng”.
Được thành lập ngày 7/7/1962 theo Quyết định số
72-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Vườn Quốc gia Cúc Phương thuộc địa phận ba tỉnh
Ninh Bình, Hoà Bình, và Thanh Hoá với tổng diện tích là 22.200 ha. Vườn Quốc
gia Cúc Phương là vườn quốc gia đầu tiên và cũng là đơn vị bảo tồn thiên nhiên
đầu tiên của Việt Nam.
Theo số liệu điều tra gần đây, Cúc Phương có
1983 loài thực vật bậc cao, trong đó có 433 loài cây làm thuốc, 229 loài cây ăn
được, nhiều loài được ghi trong sách đỏ của Việt Nam. Về động vật, Cúc Phương
có 110 loài bò sát và lưỡng cư, 65 loài cá, gần 2000 loài côn trùng, 117 loài
thú (trong đó có loài voọc đen mong trắng là loài thú linh trưởng rất đẹp và
quý hiếm được chọn làm biểu tượng của VQG Cúc Phương). Với hơn 300 loài chim cư
trú, đặc biệt có nhiều loài đặc hữu của Việt Nam và Đông Dương, vì vậy Cúc
Phương từ lâu đã trở thành điểm lý tưởng đối với các nhà xem chim.
Thuộc địa hình Caxtơ nửa che phủ, Cúc Phương có
nhiều hang động đẹp với những cái tên gợi cảm như động Sơn Cung, động Phò Mã
Giáng…Đặc biệt có một số hang động còn lưu giữ những dấu tích của người tiền
sử, sống cách đây từ 7.500 năm đến 12.000 năm, là Hang Đắng (động người xưa),
hang Con Moong. Năm 2000 Cúc Phương phát hiện một hoá thạch của một loài động
vật có xương sống, theo kết luận ban đầu của Viện cổ Sinh học Việt Nam đây là
hoá thạch của loài bò sát răng phiến, sống cách đây chừng 200 đến 230 triệu năm.
Loài ít có cơ hội tồn tại nhất có thể là voọc Cát Bà (còn
gọi là voọc đầu vàng) tại Việt Nam. Hiện nay người ta mới thống kê được 60-70
cá thể loài voọc này trên đảo Cát Bà. Số lượng cá thể của hai loài khác chỉ vào
khoảng 100. Đó là loài vượn cáo ở phía bắc đảo Madagascar và loài vượn mào đen
phương Đông ở phía Bắc Việt Nam.
Hoạt động săn bắt của con người khiến số lượng khỉ đột lưng
bạc - phân bố ở các dãy núi dọc theo biên giới Cameroon - Nigeria - giảm xuống
dưới con số 300.
Các chuyên gia nhấn mạnh đôi khi những loài có nguy cơ tuyệt
chủng cao nhất không phải là những loài hiếm nhất. Để bảo vệ động vật linh
trưởng, các chính phủ cần ngăn chặn nạn chặt phá rừng và săn bắt trái phép.
Chẳng hạn, trước đây giới khoa học cho rằng có hơn 6.000
đười ươi Sumatra sống trên đảo lớn nhất của Indonesiạ Nhưng do chính quyền
không chú ý tới hoạt động bảo tồn nên giờ đây chúng trở thành một trong những
loài có nguy cơ tuyệt chủng.
Ngược lại, vượn mào đen phương Đông trên đảo Hải Nam, Trung
Quốc là loài linh trưởng hiếm nhất thế giớị
Tại khu vực Đông Nam Á, săn bắt động vật linh trưởng để lấy
thức ăn và làm thuốc vẫn là hiểm họa lớn nhất. Thực trạng săn bắt tại Việt Nam
và Lào đã lên tới mức cực kỳ nghiêm trọng.
Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) và nhiều tổ
chức bảo tồn khác cho biết, sự tồn tại gần một nửa trong số 634 loài động vật
linh trưởng mà các nhà khoa học đã biết đang bị đe dọa ở một mức độ nào đó.
Điều đáng lo ngại là số lượng loài bị đe dọa đang tăng dần.
“Thoải mái” tận diệt Vườn chim của gia đình ông Nguyễn
Văn Thiệt (ấp Bình Hổ A, xã Vĩnh Phú Tây, huyện Phước Long) rộng hơn 6ha là một
trong những vườn chim tư nhân lớn ở Bạc Liêu, với số lượng hàng chục ngàn con.
Ông Thiệt “khoe”, mỗi năm ông thu trên 100 triệu đồng từ việc bắt chim, cò
trong vườn đi bán. Mấy ngày gần đây, mỗi ngày gia đình ông bắt khoảng 200 con
chim, cò bán cho các chợ và quán nhậu.
Theo ông Thiệt, chim bắt được bao nhiêu đều có người thu mua hết và “không thấy
chính quyền địa phương ngăn cấm gì”. Phần lớn các loại chim, cò mà các chủ vườn
chim bắt bán hiện nay là chim non (chưa ra giàng). Với những loài chim này, chỉ
cần lấy cần móc xuống là bắt hết nguyên tổ.
Trong vườn chim, chủ vườn bắt chim non để bán, còn bên ngoài
vườn, một lực lượng săn bắt hùng hậu khác giăng lưới “vô tư” bẫy chim mẹ. Chị
Hòa, ở thị trấn Châu Hưng, huyện Vĩnh Lợi kể mỗi ngày gia đình chị giăng lưới
bắt hàng chục, thậm chí cả trăm con cò, vạc đem bán cho các quán nhậu.
Tan tác những vườn chim Ông Trần Quốc Hùng, Phó Trưởng Phòng
nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Phước Long, ước tính: “Bình quân mỗi
ngày ở các vườn chim trên địa bàn huyện có ít nhất 400 con chim, cò các loại bị
bắt bán công khai. Đó là chưa kể số chim bị những người không có vườn chim săn,
giăng bẫy đem ra các chợ bán”.
Vườn chim Bạc Liêu (phường Nhà Mát, thị xã Bạc Liêu) rộng 107ha, có trên 100
loài chim sinh sống, trong đó có nhiều loài quý hiếm. Theo ông Nguyễn Trung
Chánh, Giám đốc Ban quản lý vườn chim Bạc Liêu, dù có lực lượng bảo vệ nhưng
vườn chim này cũng không tránh khỏi nạn trộm cắp, săn bắn, bẫy chim. Vì thế
lượng chim ở đây hiện giảm rất nhiều so với trước.
Thời gian qua, tỉnh Bạc Liêu chỉ chú trọng đầu tư bảo tồn khu vườn chim Bạc
Liêu, còn các vườn chim tư nhân vẫn chưa có phương án nào cụ thể để bảo tồn và
phát triển. Vì vậy, nhiều chủ vườn chim vô tư khai thác chim, cò để bán. Những
năm gần đây số lượng loài cũng như số cá thể chim hoang dã ở đây đã giảm đáng
kể, trong đó không ít loài chim hoang dã di trú, quý hiếm cũng thưa dần.
Người dân lo ngại, nếu chính quyền địa phương không sớm có chính sách bảo tồn
các vườn chim, ngăn chặn tình trạng săn bắt chim, cò theo kiểu tận diệt thì
không bao lâu nữa những vườn chim ở Bạc Liêu chỉ còn là dĩ vãng.
Với 7 vườn chim quy mô lớn, Bạc Liêu là một trong những tỉnh
có nhiều vườn chim nhất ở vùng ĐBSCL. Theo ông Nguyễn Văn Phúc, Chi cục trưởng
Chi cục Kiểm lâm Bạc Liêu, các loài chim hoang dã đều bị cấm khai thác. Việc
săn bắt chim trái phép cần phải được xử lý nghiêm. Song ông Phúc thừa nhận,
thời gian qua việc xử lý các trường hợp này rất khó khăn, nhất là đối với các
chủ vườn chim tư nhân.
Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng: Một thiên đường còn lại ở Việt Nam
Năm 1998, lần đầu tiên làm việc tại PN-KB, TS Theo Pagel,
Giám đốc Vườn thú Cologne, khẳng định: “Chúng tôi muốn làm việc ở nơi này, một
thiên đường còn lại ở Việt Nam”. Lúc đó, ông trực tiếp đi thị sát và phát hiện
ra rằng, PN-KB tiềm ẩn những bí mật của tự nhiên mà các nhà khoa học thế giới
chưa kịp khám phá.
Qua năm 1999, dự án Bảo tồn Tài nguyên thiên nhiên của Vườn thú Cologne “có
mặt” tại Vườn quốc gia PN-KB. Các nhà khoa học của Cologne đã tập trung vào
lĩnh vực bảo tồn tài nguyên, nghiên cứu đa dạng sinh học, các chương trình như
cứu hộ và tái thả động vật hoang dã vào môi trường tự nhiên, bảo vệ rừng, phối
hợp với Hội động vật Frankfurt thực hiện chương trình tái hòa nhập các loài
linh trưởng nguy cấp tại Vườn quốc gia PN-KB, bảo vệ động vật hoang dã.
Những chương trình và hoạt động của dự án đã mang lại những thành tựu có ý
nghĩa trong công tác bảo tồn và nghiên cứu khoa học tại Vườn quốc gia PN-KB.
Trong giai đoạn 1999 - 2009, các nhà khoa học đã phát hiện
đến 14 loài bò sát, lưỡng cư mới. Công lao đó thuộc về các nhà khoa học đến từ
Vườn thú Cologne và Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường thuộc Đại học
Quốc gia Hà Nội, như TS Theo Pagel, TS Thomas Ziegler, nhà nghiên cứu động vật
học Vũ Ngọc Thành, TS Martina Vogt, Nghiên cứu sinh Lê Khắc Quyết cùng sự phối
hợp tích cực với trách nhiệm cao của các chuyên viên nghiên cứu Vườn quốc gia
PN-KB và người dân vùng đệm di sản thiên nhiên thế giới này.
Trong khuôn khổ hợp tác nghiên cứu, TS Thomas Ziegler (Vườn
thú Cologne), sau gần 10 năm nghiên cứu, đã phát hiện mới 9 loài ở PN-KB.
Ông và cộng sự đã nghiên cứu và công bố những phát hiện mới tại vùng này, như:
Rắn lục vảy lưng ba gờ (Triceratolepidophis sieversorum) năm 2000, Tắc kè Phong
Nha (Cyrtodactylus phongnhakebangensis) năm 2002; Thằn lằn tai Noggei
(Tropidophorus noggei); Rắn mai gầm Thành (Calamaria thanhi) năm 2005; Rắn sãi
an-đờ-ri (Amphiesma andreae); Thằn lằn bóng (Lygosoma boehmei) năm 2006, Tắc kè
gấm (Cyrtodactylus cryptus) năm 2007; Rắn má Smithi (Fimbrios smithi) và Nhái
cây Quyết (Philautus quyeti) năm 2008.
Đặc biệt, trong những phát hiện của ông, Tắc kè Phong Nha là loài đặc hữu, chỉ
có ở PN-KB, nơi có hệ thống hang động là sinh cảnh của loài này. Các loài khác
tưởng chừng như đã tuyệt chủng, nay chỉ thấy xuất hiện ở PN-KB.
Các nhà khoa học khác cũng lần lượt công bố thêm loài mới
như Tắc kè lưng nhẵn (Gekko scientiadvantura) do Herbert RSLER phát hiện năm
2004; Rắn rào bourreti (Boiga bourreti) được Frank Tillac và các cộng sự công
bố cùng năm 2004; Rắn sãi mép trắng (Amphiesma leucomystax) được Patric David và
các cộng sự công bố năm 2007.
Ngoài ra, còn có 2 loài Thằn lằn nước (Leptoseps tetradactylus) và Rắn lục
Trường Sơn (Trimeresurus truongsonensis) đã được mô tả của nhóm nghiên cứu
người Nga (Orlov et al. 2004, Darevsky & Orlov 2005).
Như một thiên đường, tại PN-KB, nhà thực vật học, GS-TS
Nguyễn Nghĩa Thìn đã xác nhận sự có mặt của 2.651 loài thực vật, nhà ngư học
Nguyễn Thái Tự công bố 162 loài cá, với 10 loài mới. Quần thể Bách xanh đá ở Km
39, đường 20, lan Hài xoắn, lan Hài xanh, lan Hài đốm của GS-TS V.Averyanov
Leonis cũng là những phát hiện quan trọng mang tính toàn cầu.
Nhờ đó, Tổ chức UNESCO đã khuyến nghị xây dựng hồ sơ di sản cho PN-KB lần thứ 2
với những phát hiện có tính đa dạng sinh học trên.
Chính các nhà khoa học thế giới đã góp phần vinh danh cho Di
sản Thiên nhiên thế giới - Vườn quốc gia PN-KB. Trong tương lai, PN-KB rất cần
sự hợp tác hơn nữa của các nhà khoa học trong và ngoài nước để có các giải pháp
bảo tồn hiệu quả những giá trị về tài nguyên thiên nhiên quý giá nơi đây - một
thiên đường đa dạng sinh học mang tính toàn cầu.
Thêm loài Khướu mun đá
Ngày 14/10/2009, Ban quản lý Vườn quốc gia PN-KB cho biết,
vừa phát hiện một loài chim mới có tên Khướu mun đá (Stachyris herberti), chỉ
mới tìm thấy ở vùng núi đá vôi PN-KB do các nhà khoa học của Vườn thú Cologne
phát hiện.
Như vậy, số loài chim tại PN-KB hiện có 338 loài, trong đó
20 loài được ghi trong Sách đỏ Việt Nam và 17 loài được ghi trong Sách đỏ thế
giới. Các nhà bảo tồn chim thế giới đã xếp PN-KB là một trong 200 vườn chim
quan trọng của toàn cầu và là 2 trong số 60 vùng chim quan trọng bậc nhất Việt
Nam.
Xây dựng tháp mộ trong vùng lõi Vườn quốc gia Tam Đảo
Các tháp cổ
được xây lại thuộc khu vực Rừng ma Ao dứa, nằm hoàn toàn trong phân khu
bảo vệ nghiêm ngặt của VQG Tam Đảo. Theo các quy định hiện hành, khu vực
này cấm mọi hoạt động làm thay đổi cảnh quan tự nhiên.
Cho rằng khu
vực này có 7 ngôi mộ của các vị sư tổ, ngày 19/2/2009, Đại đức Thích
Thanh Toàn lập tờ trình gửi UBND huyện Tam Đảo, UBND tỉnh Vĩnh Phúc
xin phép xây dựng, khôi phục 7 ngôi mộ cổ (tháp tổ) trong vùng lõi VQG
Tam Đảo.
Đến ngày
23/2, UBND huyện Tam Đảo ra văn bản số 69/UBND-NV đồng thuận với
chủ trương xây dựng, khôi phục 7 ngôi mộ cổ theo tờ trình của Đại đức
Thích Thanh Toàn. Cùng ngày, UBND tỉnh Vĩnh Phúc đã có Văn bản số
472/UBND-NC2 về việc đồng ý cho khôi phục 7 ngôi mộ cổ tại chùa Địa
Ngục, khu thắng cảnh Tây Thiên. Sau đó, văn bản này được thay thế bằng
văn bản số 619/UBND-NC2 ngày 4/3/2009, trong đó ghi rõ thêm: “đồng ý về
nguyên tắc xây dựng lại 7 ngôi mộ cổ, quy mô không lớn, không chặt cây
làm ảnh hưởng đến VQG Tam Đảo”.
Phía VQG Tam Đảo đã có nhiều văn bản, báo cáo gửi các cơ quan chức năng tỉnh
Vĩnh Phúc cũng như Cục Kiểm lâm về vụ việc này. Nội dung của các văn bản này
đều không đồng tình với việc xây dựng trong khu vực vùng lõi VQG do không phù
hợp với pháp luật hiện hành và thẩm quyền phê duyệt cấp phép.
Các cơ quan chức
năng của tỉnh Vĩnh Phúc cũng có nhiều ý kiến khác nhau. Về phía Ban đại diện
Phật giáo huyện Tam Đảo cũng đã có văn bản gửi Đại đức Thích Thanh Toàn yêu cầu
dừng việc thi công xây dựng tháp tổ vì chưa đủ căn cứ đầy đủ để xác định phần
mộ tổ và vấn đề chấp hành các quy định của Nhà nước.
Văn bản của Ban đại diện Phật giáo huyện Tam Đảo nêu rõ “nếu có thực là mộ Tổ
thì phải được ngành quản lý chức năng thừa nhận bằng văn bản có căn cứ khoa
học, trung thực và khách quan”. Được biết, cho đến nay vẫn chưa có đánh giá
chính thức của các nhà nghiên cứu lịch sử về những di tích nằm trong quần thể
Tây Thiên. Theo kết quả khảo cổ ban đầu, một số khu mộ các thiền sư với các bia
mộ đã bị dịch chuyển không còn ở vị trí trước đây.
Ngày
17/8/2009, UBND tỉnh Vĩnh Phúc đã có văn bản yêu cầu: “trước mắt tạm
dừng việc xây dựng 7 ngôi mộ cổ quanh chùa Địa ngục nơi thắng cảnh
Tây Thiên, hướng dẫn đại đức Thích Thanh Toàn hoàn thiện hồ sơ thủ
tục xây dựng lại 7 ngôi mộ cổ theo đúng quy định Pháp luật… Yêu cầu
xây dựng đúng trên vị trí cũ, không chặt cây làm ảnh hưởng đên VQG Tam
Đảo”.
Hiện nay, phía xây dựng tháp đã mở hai con đường vào khu vực được cho là di chỉ
chùa Địa Ngục, với tổng cộng chiều dài khoảng 19km, rộng từ 1-2m. Theo thông
tin ban đầu, khu vực xây dựng tháp cổ này cũng là nơi dự định phát triển Dự án
Tam Đảo II gây nhiều tranh cãi trong thời gian trước đây.
VQG Tam Đảo có
diện tích 34.995 hecta, trong đó phân khu bảo vệ nghiêm ngặt gồm 16.442 hecta,
nằm trên địa bàn ba tỉnh Vĩnh Phúc, Tuyên Quang và Thái Nguyên. VQG trực thuộc
quản lý của Cục Kiểm lâm (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn). Tam Đảo có
mức độ đa dạng cao về các loài cây thân gỗ, bò sát ếch nhái, lưỡng cư, là một
trong những nơi có khu hệ côn trùng đa dạng nhất Việt Nam. VQG này cũng được
xem là một trong số các vùng có tầm quan trọng quốc tế trong bảo tồn các loài
chim.
Khu BTTN
Đak-rông thành lập năm 2000, được coi là vùng có giá trị đa dạng sinh học cao,
với nhiều loài động thực vật quý hiếm, đặc hữu của thế giới và Việt Nam như sao
la, gấu ngựa, voọc, gà lôi lam mào trắng, lan kim tuyến, kim giao… Phân khu bảo
vệ nghiêm ngặt còn là khu vực rừng đầu nguồn, đóng vai trò đặc biệt quan trọng
làm “chốt chặn” cản lũ quét miền ngược.
Theo Chi cục
Kiểm lâm Quảng Trị, toàn bộ diện tích khu vực dự kiến triển khai xây dựng thủy
điện A Chò (hơn 53 ha) đều nằm trong Khu BTTN Đak-rông, trong đó các hạng mục
hồ chứa, kênh dẫn, đập dâng, ống áp lực, đường vận hàng nằm trong phân khu bảo
vệ nghiêm ngặt, còn khu nhà máy và quản lý vận hàng nằm trong phân khu phục hồi
sinh thái.
Báo cáo mới
nhất của Chi cục Kiểm lâm Quảng Trị gửi UBND tỉnh này cho hay, nếu xây dựng
thủy điện A Chò, Khu BTTN Đak-rông sẽ bị chia cắt làm đôi, ảnh hưởng nghiêm
trọng đến cảnh quan, sinh thái và đa dạng sinh học của Khu.
Ông Lê Văn Quý
- Phó Chi cục trưởng thẳng thắn bày tỏ quan điểm: “Chi cục Kiểm lâm không đồng
tình việc triển khai dự án thủy điện A Chò”.
Để chứng minh
lý do không đồng tính, ông Quý khẳng định việc xây dựng công trình, mở mang
giao thông và lượng người tập trung đông sẽ làm các loài động vật di trú và gây
áp lực lớn cho việc bảo vệ rừng, đặc biệt ở các tiểu khu lân cận công trình vốn
có trữ lượng gỗ lớn nhất Khu hiện nay. Cụ thể, ngoài 38 ha rừng già và 15 ha
đất khe suối bị “khai tử”, diện tích rừng bị ảnh hưởng lên tới 4.000ha.
Trước đó, trong
công văn gửi Công ty CP thủy điện A Chò, BQL Khu BTTN Đak-rông cũng bày tỏ sự
“hết sức lo ngại” đến công tác bảo vệ rừng khi công trình thủy điện được xây
dựng.
Có quan điểm
giống như Chi cục Kiểm lâm tỉnh, BQL cho rằng những vấn đề về ô nhiễm môi
trường, ô nhiễm tiếng ồn, di dân tự do… tuy đã được nhắc đến trong báo cáo đánh
giá tác động môi trường của dự án nhưng chưa đánh giá đầy đủ và chưa có giải
pháp thuyết phục. BQL cũng dẫn quy chế quản lý rừng do Thủ tướng ban hành để
làm căn cứ phản đối dự án này.
Được biết, dự
án thủy điện A Chò đã được “nhấc lên đặt xuống” từ năm 2004, khi không được
UBND tỉnh và các ngành liên quan ủng hộ. Song không hiểu vì sao dự án này đến
nay lại được tái khởi động và tiếp tục gây phản ứng trong dư luận về vấn đề môi
trường cũng như nghi ngờ về việc dự án “mượn” thủy điện để khai thác vàng sa
khoáng trên sông Đak-rông.
Hai con voọc Chà vá bị bắn chết tại Vườn quốc gia Chư Yang Sin
Chiều 15/10, tổ
tuần tra rừng Vườn Quốc gia Chư Yang Sin (gồm 5 kiểm lâm với duy nhất khẩu súng
bắn đạn hơi cay) bắt gặp một nhóm lâm tặc chia làm 2 tốp. Tốp đi trước làm
nhiệm vụ dò đường mang theo chó săn và một khẩu súng kíp còn hai người đi sau
vác theo một khẩu súng và 2 xác Chà vá chân đen.
Trạm trưởng
Trạm Kiểm lâm số 7 Lê Văn Quyết cho biết, khi bị lực lượng kiểm lâm phát hiện,
dù đã bỏ chạy, vứt lại khẩu súng và xác 2 con Chà vá chân đen nhưng do được
trang bị vũ khí nên nhóm lâm tặc còn khiêu khích, sẵn sàng chống trả đội tuần
tra nếu ngăn cản chúng rút lui.
"Độ liều
lĩnh và tính chất nghiêm trọng của các vụ vi phạm ngày càng gia tăng. Đây là
tín hiệu rất đáng báo động", Giám đốc Vườn Quốc gia Chư Yang Sin Lương
Vĩnh Linh nói.
Theo Nghị định
của Chính phủ, Chà vá chân đen được xếp vào nhóm 1B, nhóm động vật rừng bị
nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại, nếu vi phạm có thể bị xử
tù từ 9 tháng tới 3 năm. Tháng 7 vừa qua, hai người đã bị xử tổng cộng 54 tháng
tù vì tội giết hại Chà vá chân đen tại Khánh Hòa.
Voọc Chà vá
chân đen (tên khoa học là Pygathrix nigripes) đang được xếp vào loại
nguy cấp trên toàn cầu, theo IUCN và Sách đỏ Việt Nam. Đây là loài động vật
có giá trị đặc biệt về khoa học, môi trường, số lượng quần thể còn rất ít
trong tự nhiên và có nguy cơ tuyệt chủng cao.
Lâm tặc
thường bán xương của loài Chà vá để nấu cao vì cho rằng cao của loài này có
thể chữa các bệnh về xương khớp và bồi bổ cơ thể. Tuy nhiên không có một tài
liệu khoa học nào chứng minh được điều này.
Năm 2002, theo phê duyệt quy hoạch khai thác bậc thang thuỷ
điện sông Đồng Nai của Chính phủ thì ngoài 8 công trình thuỷ điện đã và đang
xây dựng, sẽ tiếp tục đầu tư khoảng 9 công trình thuỷ điện gồm: Đồng Nai
(ĐN) 2, 3, 4, 5, 6, 8 và Dakr Tih, Bảo Lộc, La Ngâu.
Tuy nhiên hiện nay, theo VQG, sẽ khó biết được sẽ còn bao nhiêu
công trình thuỷ điện trên sông Đồng Nai và vây lấy VQG, khi công trình được phê
duyệt đã "tách ra". Đơn cử ĐN 6 quy hoạch công suất ban đầu chỉ
180MW, nay đã được Bộ Công Thương hiệu chỉnh, cho phép Cty cổ phần Tập đoàn Đức
Long Gia Lai đầu tư, tách ra làm 2 và nâng công suất lên, gồm: ĐN 6 (135MW) và
ĐN 6A (106MW), sẽ bao chiếm gần 140ha vùng lõi của VQG.
Hoặc hàng loạt các công trình khác không có tên trong quy
hoạch, mới được địa phương giới thiệu và bộ, ngành liên quan bổ sung như: Dự án
thuỷ điện Đức Thành (được bổ sung năm 2009 Cty CP Đức Hoà là chủ đầu tư, dự
kiến công trình sẽ nằm dọc theo sông Đồng Nai, trên địa bàn xã Phước Cát 2
huyện Cát Tiên (Lâm Đồng); Dự án thuỷ điện Đạ Kho (còn gọi là ĐN 7) công suất
18 MW, được bổ sung năm 2008, dự án do Cty CP tư vấn đầu tư & xây dựng Việt
Nga lập, dự kiến hạng mục chính nằm tại xã Đạ Kho, sát mép rừng VQG.
Trong khi đó, theo ông Nguyễn Văn Thanh - Trưởng phòng Khoa
học kỹ thuật VQG - sông Đồng Nai bao quanh VQG chỉ khoảng 90km, với mật độ thuỷ
điện như vậy quá dày đặc.
Tê giác, bò tót, linh trưởng hoang dã lâm nguy
Ông Nguyễn Văn Thanh bức xúc: "Các dự án thuỷ điện như ĐN 6, ĐN 6A, Đức
Thành... có nguy cơ "đánh đổi" loài tê giác một sừng còn sót lại trên
thế giới hiện đang sống ở VQG!".
Còn nhớ trước đây, trên thế giới mọi người đều nghĩ rằng
loài tê giác một sừng đã bị tuyệt chủng. Khoảng năm 1980, việc phát hiện còn
một quần thể tê giác một sừng ở VQG đã làm cho các nhà nghiên cứu khoa học về
bảo tồn phải sửng sốt. Hiện VQG chỉ còn 3-5 cá thể tê giác và được bảo vệ, bảo
tồn nghiêm ngặt.
Tuy nhiên theo VQG, khi triển khai, Dự án ĐN 6 và 6A sẽ bao
chiếm hơn 130ha vùng lõi của VQG, chỉ cách khu vực hoạt động của tê giác lần
lượt từ 0,7km và 11km.
Tương tự, trong văn bản gửi chủ dự án, ông Trần Văn Thành -
Giám đốc VQG - cũng nhận định, Dự án thuỷ điện Đức Thành có vị trí chỉ cách
ranh giới VQG 600m, khu vực lòng hồ lại nằm dọc sông Đồng Nai tiếp giáp với
vùng sinh cảnh tê giác.
Còn Dự án thuỷ điện ĐN 7 thì chỉ cách TT cứu hộ linh trưởng
nguy cấp VQG khoảng 500m.
Khi các dự án đi vào triển khai, việc mở đường khai thác tận
thu gỗ, nổ mìn khai thác đá và vận hành công trình chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến
sinh cảnh tê giác. "Tê giác là loài rất khó khăn trong sinh sản. Nếu dự án
triển khai, bị tác động sinh cảnh, tiếng ồn, con người, tê giác triệt đường
sinh thì nguy cơ tuyệt chủng là hiển hiện!" - ông Thành nói và cho hay,
với Dự án ĐN 7 cũng vậy, sẽ tác động lớn đến công tác bảo tồn các loài linh
trưởng. Bởi TT là nơi tập cho linh trưởng vốn đã sống trong môi trường con
người, tập thói quen thích nghi dần với thế giới hoang dã, nay lại để con
người, máy móc tác động, coi như bảo tồn bằng không.
Thạc sĩ Phạm Hữu Khánh - người có hàng chục năm gắn bó với
VQG, hiện là điều phối viên dự án phát triển du lịch sinh thái của WWF tại Cát
Tiên - nhận định, nếu xây dựng những công trình này còn làm thay đổi hệ thống
thuỷ văn vùng sinh cảnh tối ưu của quần thể bò tót Cát Tiên hiện lớn nhất ở
Việt Nam với khoảng 110 con nơi đây.
Ảnh hưởng khu đất ngập nước có tầm quan trọng thế giới
Tại VQG có khu Bàu Sấu khoảng 200ha nằm giữa rừng nguyên
sinh, được Ban Thư ký Công ước RamSar công nhận là vùng đất ngập nước có tầm
quan trọng quốc tế.
Theo ông Trần Văn Thành, việc ngăn đập thuỷ điện sẽ làm thay
đổi dòng chảy tự nhiên sông Đồng Nai, ảnh hưởng lớn đến các loài động vật thuỷ
sinh trong hệ ngập nước Bàu Sấu. Các nhà khoa học, nhà quản lý VQG khẩn thiết
rằng, bộ, ngành, cơ quan chức năng phải cẩn trọng khi cho xây dựng các dự án
thuỷ điện sông Đồng Nai ở những khu vực "nhạy cảm" của VQG. Và nếu
buộc phải triển khai, cần có một cơ quan tư vấn độc lập đánh giá tác động môi
trường của các dự án thuỷ điện để đảm bảo khách quan, khoa học.
Khu
bảo tồn được đặt tên là Khu bảo tồn Loài và Sinh cảnh
Voọc
mũi hếch Hà Giang, bao gồm toàn bộ khu vực rừng là nơi sống của khoảng 90 cá
thể Voọc mũi hếch được biết đến là quần thể lớn nhất hiện nay.
Voọc mũi hếch là loài linh trưởng
quý hiếm duy nhất đối với Việt Nam và chỉ được biết đến từ tỉnh Tuyên Quang và
Hà Giang. Có ít hơn 250 cá thể được biết đến còn tồn tại trên thế giới và được
xếp vào mức độ Cực kỳ nguy cấp trong cả Danh lục đỏ về các loài bị đe dọa của
Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên thế giới (IUCN) và cả trong Sách đỏ Việt Nam.
Loài này trước đây được cho rằng đã
bị tuyệt chủng. Mãi đến đầu những năm 90 mới được phát hiện trở lại tại tỉnh
Tuyên Quang. Sau đó vào năm 2002, với sự hỗ trợ từ tổ chức Bảo tồn động thực
vật hoang dã quốc tế (FFI), đã phát hiện một quần thể tại khu vực rừng Khau Ca,
tỉnh Hà Giang nằm giữa huyện Vị Xuyên và Bắc Mê. Từ đó, Chi cục Kiểm lâm Hà
Giang với sự hợp tác của FFI đã tiến hành các họat động bảo tồn nhằm bảo đảm sự
tồn tại lâu dài của quần thể này.
Khu vực Khau Ca tạo thành một dãy
rừng nhỏ trên núi đá vôi. Khu vực rừng nằm ở độ cao 600-700m bị tác động mạnh
và hiện tại bao gồm cây bụi và cây gỗ nhỏ, hy vọng rằng sẽ có sự thay đổi sau
khi thành lập khu bảo tồn. Khu vực rừng nằm ở độ cao từ 700 – 1400m ít bị tác động
hơn với nhiều cây lâu năm, cây cao tại các thung lũng và cây thấp rải quanh khu
vực đỉnh núi.
Một điểm chú ý khác nữa đó là khu
vực có Voọc mũi hếch sát bên cạnh khu bảo tồn thiên nhiên Du Già và có các đặc
tính sinh thái là một phần của hệ sinh thái giống nhau, điều đó có nghĩa một
khu vục sống rộng hơn cho loài Voọc mũi hếch nếu một hành lang sinh cảnh rừng
liên tục được tạo ra giữa hai khu bảo tồn trong tương lai.
Ông Hoàng Văn Tuệ, trưởng ban Ban
quản lý khu bảo tồn cho biết ông thấy rất vui mừng và phấn khởi sau nhiều năm
cố gắng bảo vệ, loài linh trưởng đặc biệt quý hiếm này đang phát triển tốt và
khu bảo tồn đã chính thức được thành lập. Ông tin tưởng vào việc sẽ bảo tồn
thành công loài linh trưởng này.
Thách thức trong tương lai là việc
phục hồi các khu vực đất rừng đã cạn kiệt trong khu bảo tồn nhằm mở rộng vùng
sinh cảnh sống cho quần thể Voọc phát triển. Điều này đòi hỏi một sự cố gắng
hợp tác giữa Chi cục Kiểm lâm thông qua Ban quản lý khu bảo tồn, cộng đồng các
dân tộc Dao, Tày và H’Mông tại địa phương và sự hỗ trợ kỹ thuật của chuyên gia
quốc tế.
IUCN nhấn mạnh mối đe dọa đối với loại động vật vốn được
IUCN xếp vào loại "bí hiểm nhất thế giới" này là các bẫy đặt trộm
trong rừng.
Nguy cơ tuyệt chủng của Sao La có thể so sánh với tê giác ở
Đông Nam Á. Vì vậy, mới đây các nhà bảo vệ động vật hoang dã của IUCN đã phải
triệu tập một cuộc họp khẩn cấp tại Lào để tìm cách cứu loài động vật này khỏi
tuyệt chủng.
Nhà điều phối các hoạt động bảo vệ Sao La của IUCN, ông
William Robichaud cho biết số lượng Sao La trên thế giới hiện còn rất ít và
không thể xác định được. Sao La không có mặt trong các vườn thú vì chúng không
thể sống trong điều kiện bị giam cầm. Do đó, nếu chúng bị tiêu diệt hết trong
tự nhiên thì nhân loại không còn bằng chứng nào cho thấy chúng đã tồn tại.
Các nỗ lực bảo vệ Sao La là nỗ lực mới nhất của cộng đồng
quốc tế trước mối đe dọa tuyệt chủng của nhiều loại động vật ở Đông Nam Á do
nhu cầu y tế và thịt thú rừng cho các nhà hàng ở Trung Quốc và nhiều nước Đông
Nam Á.
Loài Sao La có nguy cơ tuyệt chủng bất chấp cả khi Hiệp hội
các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đã ký hiệp định chia sẻ thông tin chống lại nạn
săn bắn và buôn bán bất hợp pháp động vật hoang dã từ tháng 12/2005.
Bán cả cơ nghiệp vì linh trưởng “VQG Cúc Phương rộng 22.000 ha, nằm
ở khu vực giáp ranh ba tỉnh Ninh Bình, Thanh Hóa và Hòa Bình. Trong rừng có các
trung tâm bảo vệ rùa, cầy vằn; thuần dưỡng hươu, nai... đều do người nước ngoài
làm chủ đề tài, dự án. Trong đó, có Trung tâm Cứu hộ linh trưởng do thạc sĩ
Tilo làm giám đốc”- ông Hoàng Xuân Thủy, cán bộ VQG Cúc Phương, giới thiệu.
Chúng tôi có ấn tượng đặc biệt ngay lần đầu gặp gỡ thạc sĩ
Tilo ở VQG Cúc Phương. Đã gần 70 tuổi song trông ông vẫn vạm vỡ, phong trần với
vẻ gì đó rất “bụi bặm”, “giang hồ”. Các cán bộ VQG Cúc Phương cho chúng tôi
biết để có tiền xây trung tâm cứu hộ này, Tilo đã phải bán cả cơ nghiệp của ông
bên Đức mới đủ kinh phí.
Đã hơn 9 giờ mà muỗi rừng vẫn vo ve quấn lấy chân người.
Tilo và vợ, bà Nguyễn Thị Thu Hiền, nhỏ hơn ông... 31 tuổi, niềm nở đón tiếp
chúng tôi. Vợ chồng Tilo cùng mặc trang phục kiểm lâm màu xanh lá rừng. Trông
họ rất gọn gàng, nhanh nhẹn.
Tilo nói tiếng Việt đủ để giao tiếp. Đã hơn 10 năm ông lấy
vợ người Việt và sinh được hai con rồi còn gì! Song Tilo thường rất ít nói. Dù
vậy, khi gặp chuyện bất bình, chướng tai gai mắt nào đó, nhất là trong việc cứu
hộ, nuôi dưỡng linh trưởng, ông lập tức đỏ mặt tía tai, nói năng đốp chát. Với
phong thái như vậy, người dân bản Mường quanh VQG Cúc Phương thường gọi Tilo là
lão “thiên lôi”.
Vậy mà 18 năm nay, lão “thiên lôi” ấy bám rừng Cúc Phương
chỉ với mỗi tâm niệm “giữ gìn những gì sắp mất cho thế hệ mai sau”. 18 năm miệt
mài, ngày nào cũng như ngày nào, từ sáng sớm đến chiều tối, vợ chồng Tilo -
Hiền cặm cụi với công việc cứu hộ, nuôi dưỡng voọc. Hai con trai của họ, đứa 7
tuổi, đứa 4 tuổi, cũng tự chơi với những con voọc như bè bạn trong núi rừng Cúc
Phương. Xin được nằm lại với Cúc Phương
Chúng tôi đến Trung tâm Cứu hộ linh trưởng của Tilo và quan sát ông làm việc.
Hai bức tường trong phòng làm việc của Tilo chất đầy sách, tài liệu và cắm hai
lá cờ Việt - Đức. Bức tượng Hồ Chủ tịch đặt trang trọng trên bàn làm việc của
ông. Tiếng máy tính lách cách vang lên trong không gian yên tĩnh của núi rừng
buổi sớm. Trông Tilo cặm cụi, lừng lững làm việc, chúng tôi chợt nhớ tới biệt
danh “cỗ xe tăng Đức” mà bà con quanh vùng từng gọi ông.
Với vợ chồng Tilo, công việc cứu hộ, nuôi dưỡng linh trưởng
dường lúc nào cũng hối thúc họ. “Ngày đầu mới đến Cúc Phương, chúng tôi từng
dựng lều, ăn củ chuối, uống nước suối, ngủ ngay trong rừng để rình chụp ảnh
voọc mông trắng. Bà con quanh vùng ai cũng trố mắt kinh ngạc, không hiểu chúng
tôi làm gì. Do phải cùng Tilo liên tục lặn lội khảo sát, tìm hiểu tập tính của
linh trưởng trong các khu rừng, vách núi, tôi đã phải bỏ mất đứa con trong bụng
do quá đuối sức”- bà Hiền tâm sự.
18 năm lăn lộn cứu hộ, bảo tồn voọc ở Cúc Phương, giờ đây
gia sản của vợ chồng Tilo chỉ là đàn linh trưởng, trong đó có nhiều con đang bị
thương. Vậy mà ông vẫn yêu quý vô cùng loài thú này, yêu quý cả nơi mà ông đã
gắn bó lâu nay. Bà Hiền bộc bạch: “Đã có lúc, Tilo nêu nguyện vọng cuối đời của
mình với giám đốc VQG Cúc Phương rằng, khi ông qua đời hãy cho ông yên nghỉ ở
động Người xưa trong rừng”.
Bà Hiền cho biết từ ngày gắn bó với Tilo, gắn bó với voọc và
núi rừng Cúc Phương, vợ chồng bà không bao giờ được phép đau ốm. Công việc cứ
bày ra, chẳng còn thời gian đâu để nghỉ dưỡng. Lịch làm việc của vợ chồng họ
dày kín: Sáng, chiều làm việc tại trung tâm; tối về cặm cụi dịch tài liệu...
“Kết hôn với Tilo đã chục năm nay nhưng chúng tôi chưa một ngày nào được lên xe
hoa. Vợ chồng tôi cứ dự định tổ chức đám cưới nhưng công việc cứ cuốn phăng,
không có thời gian”- bà Hiền kể. Chuyện tình xuyên quốc gia Tilo vốn là thạc sĩ điện lạnh nhưng từ lâu đã đam mê các loài thú, nhất
là voọc. Nỗi đam mê ấy giúp ông dành nhiều thời gian tìm hiểu động vật hoang dã
và trở thành chuyên gia nghiên cứu linh trưởng.
Trước khi gắn bó với núi rừng VN, Tilo đã từng đến châu Phi và nhiều nước khác
ở châu Á để nghiên cứu loài linh trưởng. Năm 1991, theo sự phân công của Trung
tâm Zoologische Gesellschaft Franrfurt – Đức, Tilo tới VN tiến hành dự án
nghiên cứu bảo tồn linh trưởng. Trong những ngày lặn lội ở núi rừng VN, Tilo đã
gặp Thu Hiền, cô sinh viên Trường ĐH Tổng hợp Hà Nội khi ấy là hướng dẫn viên
du lịch cho một số công ty lữ hành. Có cá tính lại thích ngao du, Hiền đã cùng
Tilo vào rừng, lên núi hàng tuần để tìm hiểu tập quán của loài linh trưởng tại
VN. Tình yêu của họ nảy nở từ những chuyến đi như vậy.
Biết con gái
yêu một người đàn ông Đức gần bằng tuổi cha, hơn cả tuổi mẹ, cha mẹ Hiền và họ
hàng cực lực phản đối. Mười năm trôi qua, họ vẫn yêu nhau. Năm 1996, dự án
nghiên cứu bảo tồn linh trưởng của Tilo thành công, song tiếng gọi của đàn
voọc, sự hấp dẫn của núi rừng VN và đặc biệt là tình yêu với cô gái người Việt,
đã níu bước chân ông.
Ông không thể rời núi rừng Cúc Phương, bỏ mặc những con thú quý đang có nguy cơ
tuyệt chủng. Tilo càng không thể lìa xa đất nước này, khi ở đây có một người
con gái vẫn chờ đợi ông... Rốt cuộc, cha mẹ Hiền đã mềm lòng, đồng ý để hai
người đi tới hôn nhân. “Trước hôm cưới 2 ngày, tôi mới biết Tilo hơn mình
tới... 31 tuổi, còn con gái riêng của anh ấy cũng hơn tôi 5 tuổi”- bà Hiền nhớ
lại.
Dù chênh lệch tuổi tác, khác biệt chủng tộc, ngôn ngữ, song họ vẫn gắn bó nhau
với đầy tình cảm yêu thương đến ngày nay. Khi Tilo quyết định rời Hà Nội vào
bám VQG Cúc Phương để có điều kiện cứu hộ, nuôi dưỡng, bảo tồn đàn voọc tốt
hơn, Hiền cũng kiên quyết theo chồng, từ bỏ những tiện nghi nơi phố phường đô
hội.
Nhiều cán bộ VQG Cúc Phương và người dân quanh vùng đã trìu mến gọi Tilo là
“linh trưởng chúa”, “hiệp sĩ voọc”. 18 năm lăn lộn cứu hộ, bảo tồn voọc ở VQG
Cúc Phương, người đàn ông Đức này đã vinh dự được Chủ tịch nước VN gởi thư
khen, được Nhà nước ta tặng Huân chương Lao động hạng ba, đoạt giải thưởng danh
dự hạng nhất dành cho chuyên gia về lĩnh vực bảo tồn của thế giới...
Biến đổi khí hậu: Thách thức lớn, cố gắng lớn với Việt Nam
Theo dự báo, BÐKH sẽ làm cho các trận bão ở VN có mức độ tàn
phá nghiêm trọng hơn.
Ðường đi của bão dịch chuyển về phía
nam và mùa bão dịch chuyển vào các tháng cuối năm. Lượng mưa giảm trong mùa khô
(tháng 7 và 8), và tăng trong mùa mưa (tháng 4 và 11); mưa lớn thường xuyên hơn
gây lũ lớn và nhiều hơn ở miền Trung và miền Nam.
Hệ sinh thái biển sẽ bị tổn thương.
Các rạn san hô là nơi sinh sống của nhiều loài sinh vật biển, là lá chắn sóng
chống xói mòn bờ biển và bảo vệ rừng ngập mặn sẽ bị suy thoái do nhiệt độ nước
biển tăng, đồng thời mưa nhiều làm cho nước bị ô nhiễm phù sa và có thể cả các
hóa chất nông nghiệp từ cửa sông đổ vào. Nhiệt độ tăng làm nguồn thủy, hải sản
bị phân tán. Các loài cá nhiệt đới (kém giá trị kinh tế trừ cá ngừ) tăng lên,
các loài cá cận nhiệt đới (giá trị kinh tế cao) giảm.
Các thay đổi diễn ra sẽ đe dọa sự phát triển, đe dọa cuộc sống của tất cả các
loài, các hệ sinh thái. BÐKH với các hệ quả của nó như lũ lụt, hạn hán, cháy
rừng, xói mòn và sụt lở đất sẽ thúc đẩy sự suy thoái ÐDSH nhanh hơn, trầm trọng
hơn, nhất là những hệ sinh thái rừng nhiệt đới không còn nguyên vẹn, tăng nguy
cơ diệt chủng của động, thực vật, làm biến mất các nguồn gien quý, hiếm, bệnh
dịch mới có thể phát sinh (Thông báo quốc gia lần thứ nhất). BÐKH tăng một số
nguy cơ đối với người bệnh, thay đổi đặc tính trong nhịp sinh học của con
người. Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), trái đất nóng lên có thể sẽ làm hơn
150 nghìn người chết và năm triệu người bị mắc các chứng bệnh khác nhau. Con số
trên có thể tăng gấp hai lần vào năm 2030.
Ảnh hưởng của BÐKH đối với đa dạng sinh học (ÐDSH) ở VN
Hạn hán xảy ra ở phần lớn các khu vực của cả nước. Nhiệt độ trung bình năm tăng
khoảng 0,1 đến 0,30 độ C/ thập kỷ. Nhiệt độ tăng và lượng mưa thay đổi sẽ ảnh
hưởng đến nông nghiệp và nguồn nước. Mực nước biển có khả năng dâng cao 1m vào
cuối thế kỷ, lúc đó VN sẽ mất hơn 12% diện tích đất đai, nơi cư trú của 23% số
dân.
Hậu quả do BÐKH toàn cầu gây ra ngày một rõ ràng, trong đó có tác động đến
ÐDSH, nguồn tài nguyên quý giá của đất nước. Dựa vào một số nghiên cứu đã thực
hiện trên thế giới và điều kiện tự nhiên của VN, dự báo hậu quả của BÐKH sẽ tác
động mạnh lên hai vùng đồng bằng sông Cửu Long và sông Hồng, các vùng dọc bờ
biển và các hệ sinh thái rừng trong cả nước. Nước biển dâng sẽ ảnh hưởng vùng
đất ngập nước của bờ biển VN, nghiêm trọng nhất là khu vực rừng ngập mặn của Cà
Mau, TP. Hồ Chí Minh, Vũng Tàu và Nam Ðịnh.
Hai vùng đồng bằng và ven biển nước ta, trong đó có rừng ngập mặn và hệ thống
đất ngập nước rất giàu có về các loài sinh vật, là những hệ sinh thái rất dễ bị
tổn thương. Mực nước biển dâng lên cùng với cường độ của bão sẽ làm thay đổi
thành phần của trầm tích, độ mặn và mức độ ô nhiễm của nước, làm suy thoái và
đe dọa sự sống còn của rừng ngập mặn và các loài sinh vật trong đó. Khi mực
nước biển dâng cao, khoảng một nửa trong số 68 khu đất ngập nước sẽ bị ảnh
hưởng nặng; nước mặn sẽ xâm nhập sâu vào đất liền, giết chết nhiều loài động,
thực vật nước ngọt, ảnh hưởng nguồn nước ngọt cung cấp cho sinh hoạt và trồng
trọt của nhiều vùng. 36 khu bảo tồn, trong đó có tám vườn quốc gia, 11 khu dự
trữ thiên nhiên sẽ bị ngập.
Làm gì để ứng phó với BÐKH toàn
cầu?
Tác động của BÐKH trong những năm
qua không loại trừ quốc gia nào, dù cho nước đó không góp nhiều vào nguyên nhân
gây nên BÐKH. Riêng ở nước ta, trong những năm gần đây, hạn hán, mưa lũ, sụt lở
đất, lũ quét xảy ra dồn dập, nhất là năm 2007, đã gây thiệt hại rất nặng nề về
người và của. Chúng ta đã và đang cố gắng làm mọi cách nhằm giảm nhẹ ảnh hưởng của
thiên tai, cả bằng khoa học kỹ thuật và các biện pháp xã hội. Thách thức lớn
nhất của VN hiện nay là chưa có chiến lược, chính sách, chương trình, kế hoạch
phát triển phù hợp sự biến đổi hết sức nhanh chóng của khí hậu toàn cầu. VN
đang xây dựng Chương trình Mục tiêu Quốc gia đối với BÐKH. Mong rằng Chương
trình sớm được thông qua và thực hiện. Ðể phát triển bền vững, trong kế hoạch
phát triển kinh tế - xã hội trước mắt và lâu dài của đất nước và từng vùng, cần
phải sớm đặt vấn đề về BÐKH toàn cầu một cách nghiêm túc. Trong xây dựng quy
hoạch phát triển, chúng ta cần chú ý việc làm giảm nhẹ và phòng, chống, nhưng
cũng cần quan tâm vấn đề thích nghi với BÐKH.
Nhà nước cần sớm tổ chức một cơ quan
chuyên trách có đủ năng lực để nghiên cứu về BÐKH toàn cầu và phát triển bền
vững, sớm đề xuất những ý kiến xác đáng, khả thi về phát triển kinh tế - xã hội
nước ta một cách lâu dài trong bối cảnh BÐKH toàn cầu mới, trong đó cần lưu ý
đúng mức đến bảo tồn ÐDSH, vốn tài nguyên quý giá, cơ sở cho sự phát triển bền
vững của đất nước.
Chúng ta cũng nên rà soát lại những
công trình phát triển liên quan diện tích rừng hiện có; thúc đẩy mạnh hơn việc
bảo vệ rừng và trồng rừng, vì các loài sinh vật chỉ có thể chống đỡ được với
những sự biến đổi về môi trường khi sinh sống trong một hệ sinh thái ổn định;
sử dụng hợp lý đất đai, củng cố và quản lý tốt các khu bảo tồn thiên nhiên,
tăng cường tiết kiệm năng lượng, giảm thiểu ô nhiễm và xóa đói, giảm nghèo; làm
tốt công tác truyền thông, nhằm nâng cao nhận thức của tầng lớp nhân dân về
thảm họa của BÐKH toàn cầu.
Bảo vệ động, thực vật hoang dã, góp phần bảo tồn bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên ở Việt Nam
Hội
thảo "Bảo vệ động, thực vật hoang dã, góp phần bảo tồn bền vững các nguồn
tài nguyên thiên nhiên ở Việt Nam" được tổ chức nhằm tăng cường công tác
tuyên truyền giáo dục cán bộ, viên chức, đảng viên và người dân thay đổi hành
vi, thói quen tiêu dùng động vật, thực vật hoang dã.
Hội thảo được tổ chức do sự phối hợp và tài trợ của Traffic (mạng lưới theo
dõi, giám sát buôn bán động, thực vật hoang dã toàn cầu), Ban Tuyên giáo Trung
ương, phối hợp với Tỉnh ủy, Ban Tuyên giáo tỉnh ủy, và Huyện ủy, Ban Tuyên giáo
huyện ủy huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.
Bảo vệ động, thực vật hoang dã góp phần bảo tồn bền vững
nguồn tài nguyên thiên nhiên là một trong những chủ trương đã được Đảng ta
khẳng định tại nhiều văn kiện quan trọng của Đảng (Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày
15/11/2004 của Bộ Chính trị, Khoá IX; Chỉ thị 29-CT/TW ngày 21/01/2009 của Ban
Bí thư, Khoá X và Hướng dẫn số 72-HD/BTGTW ngày 20/3/2009 của Ban Tuyên giáo
Trung ương về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước) cũng như sự thể hiện trong những văn bản pháp luật.
Quy định về bảo tồn động, thực vật hoang dã, trong đó có
Luật Đa dạng sinh học, được Quốc hội thông qua tháng 11/2008. Đây là văn bản
pháp lý có hiệu lực cao nhất, điều chỉnh toàn diện và thống nhất các vấn đề về
đa dạng sinh học nói chung và bảo tồn động, thực vật hoang dã nói riêng. Luật
có dành một chương riêng (chương IV) quy định về bảo tồn và phát triển bền vững
các loài sinh vật. Quan điểm về bảo tồn động, thực vật hoang dã trong Luật Đa
dạng sinh học đã có sự đổi mới cơ bản, đó là bảo tồn phải kết hợp với khai
thác, sử dụng; chia sẻ lợi ích giữa các bên có liên quan bảo đảm hài hòa giữa
lợi ích của Nhà nước và lợi ích của các tổ chức, cá nhân.
Dù đã có nhiều nghị quyết, văn bản pháp luật về bảo vệ tài
nguyên và môi trường, bảo vệ các loài động, thực vật hoang dã, nhưng trên thực
tế, nguồn tài nguyên đa dạng sinh học của chúng ta tiếp tục bị suy thoái, các
loài động, thực vật tiếp tục bị rơi vào nguy cơ tuyệt chủng trên lãnh thổ
Việt Nam.
Tình trạng buôn bán, vận chuyển động thực vật hoang dã trái
phép từ năm 1996-2007 ngày càng gia tăng, quy mô ngày càng lớn, cả nước đã có
14.758 vụ vi phạm về săn bắt và buôn bán động, thực vật hoang dã. Lực lượng
chức năng đã tịch thu 181.670 cá thể với trọng lượng khoảng 635 tấn. Số vụ vi
phạm hàng năm vẫn có xu hướng tăng. Việt Nam không chỉ đóng vai trò là nơi cung
cấp, mà còn là thị trường trung chuyển đối với động, thực vật hoang dã đi các
thị trường khác. Vụ bắt giữ trên 25 tấn tê tê đông lạnh và vảy tê tê năm 2008
và gần đây là 6,2 tấn ngà voi ở cảng Hải phòng càng cho thấy Việt Nam đã và
đang trở thành nơi trung chuyển động, thực vật hoang dã trái phép sang thị
trường quốc tế.
Nguyên nhân của tình trạng trên một phần là bởi công tác
tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức của người dân về bảo vệ động, thực
vật hoang dã chưa được quan tâm đúng mức; tuyên truyền vận động chưa kết hợp
tốt với các biện pháp kinh tế nên hiệu quả tuyên truyền chưa cao. Người dân vẫn
có thị hiếu tiêu dùng động vật hoang dã. Tiêu thụ động, thực vật hoang dã vẫn
diễn ra phổ biến công khai ở nhiều cơ sở kinh doanh phục vụ ăn uống.
Hội thảo "Bảo vệ động, thực vật hoang dã, góp phần bảo
tồn bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên ở Việt Nam" được tổ chức
nhằm tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục cán bộ, viên chức, đảng viên và
người dân thay đổi hành vi, thói quen tiêu dùng động vật, thực vật hoang dã.
Hội thảo sẽ tập trung thảo luận về giải pháp bảo vệ các loài động, thực vật hoang
dã, góp phần bảo tồn bền vững tài nguyên và môi trường Việt Nam trong thời gian
tới như sớm ban hành Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đa dạng sinh học, và các
văn bản dưới luật khác, trong đó xác định rõ trách nhiệm của cơ quan chủ trì
quản lý; quy chế phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện. Tăng cường
công tác tuyên tuyền giáo dục cán bộ, viên chức, đảng viên, người dân thay đổi
hành vi, thói quen tiêu dùng động, thực vật hoang dã không bền vững. Có chính
sách ổn định đời sống người dân khu vực bảo tồn, tạo điều kiện cho người dân
tham gia và có thu nhập từ hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học để họ trở thành
lực lượng chính trong việc bảo tồn động, thực vật hoang dã.|
Hội thảo sẽ có những kiến nghị với Đảng, Nhà nước nhằm phát huy sức mạnh
vật chất, trí tuệ và tinh thần của toàn xã hội để thực hiện tốt hơn nữa việc
bảo vệ môi trường nói chung và bảo vệ các loài động, thực vật hoang dã nói
riêng trong thời gian tới.
Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm: Phát triển du lịch bền vững
Xóa “tự phát”
Theo ông Trần Văn Nhân,
Phó Phòng Thương mại - Du lịch TP. Hội An, lâu nay du lịch ở Cù Lao Chàm tuy có
phát triển nhưng vẫn chưa bài bản và hầu hết các dịch vụ du lịch đều được tổ
chức một cách tự phát. Dễ thấy nhất là các tour, tuyến của các đơn kinh doanh
du lịch địa phương vẫn rất riêng lẻ, không có sự kết nối theo qui hoạch. Trong
khi đó, hệ thống cơ sở hạ tầng, công tác tổ chức, qui hoạch để phát triển du
lịch lâu nay vẫn chưa được triển khai đồng bộ, hiệu quả. Kiểu du lịch homestay
tuy đã được thực hiện ở hòn đảo này nhưng rất sơ sài, chưa để lại nhiều ấn
tượng cho du khách.
Tiềm năng du lịch của
quần đảo Cù Lao Chàm tuy đã được khẳng định, nhưng gần đây ngành du lịch địa
phương mới xây dựng đề án phát triển. Theo đó, sẽ gom những dịch vụ du lịch tự
phát của người dân vào những khu qui hoạch riêng. Cụ thể, tại khu vực cảng cá
thôn Bãi Làng, đã bước đầu xây dựng, bố trí những mặt bằng dành làm khu bán
hàng lưu niệm, hải sản khô và sẽ xây dựng những ki-ốt có mái che, tổ chức trồng
cây xanh phù hợp với cảnh quan chung của đảo. Bãi Ông là nơi tập trung của
những ki-ốt phục vụ ăn uống giải khát, cho thuê áo phao, tổ chức những sự kiện
du lịch, thể thao bãi biển. Những ki-ốt nói trên sẽ được ưu đãi về thuế trong
vài năm đầu.
Chính quyền địa phương
còn xây dựng đội ngũ là những đoàn viên thanh niên chuyên tổ chức các hoạt động
như đốt lửa trại, giao lưu văn nghệ, tổ chức các hoạt động thể thao trên biển
một cách chuyên nghiệp. Đội ngũ dịch vụ vận chuyển bằng đường bộ và đường biển
cũng đã được chuẩn bị. Cùng lúc, địa phương sẽ xây dựng một văn phòng giới
thiệu về du lịch và những “đặc sản” của Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao
Chàm. Đặc biệt, để tổ chức các hoạt động này, TP. Hội An đã xây dựng đưa vào
hoạt động Ban Quản lý du lịch Cù Lao Chàm mà Phó ban là một cán bộ địa
phương. Theo lời ông Nhân, tất cả các hoạt động này sẽ được tổ chức bài bản và
kèm theo cái tên “Khu dự trữ sinh quyển thế giới” nên dễ thực hiện và tạo được
ấn tượng.
Phát triển du lịch theo
hướng nào?
Cù Lao Chàm được công
nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới đã đặt ra cho ngành du lịch địa phương
những thách thức mới. Theo ông Nguyễn Sự, Bí thư Thành ủy Hội An, danh hiệu này
đã mở tầm ảnh hưởng của Cù Lao Chàm rộng ra thế giới và cũng chính vì thế trách
nhiệm của địa phương càng nặng nề. Nhất là việc bảo tồn phát huy những giá trị
của một Khu dự trữ sinh quyển thế giới. Trong khi đó, khát khao của Cù Lao Chàm
sẽ là vùng biển đảo phát triển, nhất là việc phát triển kinh tế du lịch.
Phát triển du lịch Cù
Lao Chàm theo hướng nào? Theo lời ông Lê Văn Giảng, Chủ tịch UBND thành phố Hội
An, vài năm trở lại đây bằng chính nỗ lực của địa phương và các tổ chức xã hội,
đã cho những kết quả khả quan trong việc “bảo vệ” Cù Lao Chàm. Cụ thể, công tác
bảo vệ môi trường đã được triển khai bằng nhiều hoạt động có hiệu quả. Cù Lao
Chàm đã cơ bản giải quyết được chuyện rác thải. Rồi nguồn tài nguyên yến sào
cũng được bảo vệ nghiêm ngặt. Cùng lúc đó, người dân đã có ý thức cao hơn trong
việc bảo vệ nguồn lợi hải sản. Tình trạng khai thác san hô bừa bãi không còn.
Ngư trường đánh bắt hải sản của người dân đã được định vị. Rừng được bảo vệ
nghiêm ngặt. Nước sạch căn bản đã được giải quyết. Khó khăn lớn nhất hiện nay
của đảo là chưa có mạng điện lưới quốc gia. Đây là điều kiện rất quan trọng để
tính đến phương hướng chiến lược cho sự phát triển của Cù Lao Chàm.
Khi đã căn bản giải
quyết hết những khó khăn trước mắt, Cù Lao Chàm sẽ chọn một hướng đi thích hợp
cho việc phát triển du lịch. Cũng theo lời ông Nguyễn Sự, hướng du lịch sinh
thái cao cấp sẽ được ưu tiên lựa chọn. Phải qui hoạch tổng thể Cù Lao Chàm và
kêu gọi đầu tư theo hướng “chậm nhưng chắc” với một cơ chế đầu tư mang tầm quốc
gia. Phải làm nhiều việc để du khách nhận thấy nét nổi bật của một Khu dự trữ
sinh quyển thế giới và luôn tôn trọng những giá trị đó. Bởi thực tế, cách làm
du lịch của những Khu dự trữ sinh quyển thế giới ở nhiều nơi không những bảo về
được nguồn tài nguyên thiên nhiên, mà còn nâng cao giá trị của tài nguyên. Và
vì thế, Cù Lao Chăm sẽ nhận được sự ủng hộ và giúp đỡ của các tổ chức trên thế giới
trong việc xây dựng một chiến lược phát triển hợp lý cho Cù Lao Chàm, đặc biệt
là chiến lược phát triển du lịch một cách bền vững.
Có thể cho thuê vùng đệm vườn quốc gia làm du lịch sinh thái
Có một nghịch lý đang tồn tại là các địa phương càng có nhiều rừng
đặc dụng thì càng nghèo do rừng đặc dụng không đem lại nguồn thu cho ngân sách
địa phương, mà lại phải tốn thêm ngân sách cho quản lý bảo vệ rừng.
Thậm chí, có khu bảo tồn thiên nhiên có quyết định quy hoạch từ
năm 2003 nhưng đến năm 2008 mới thành lập được ban quản lý rừng đặc dụng. Lý do
là địa phương không cân đối được ngân sách đầu tư.
Trong khi đó, do không tách được việc quản lý rừng ra khỏi hoạt
động sản xuất kinh doanh nên làm suy yếu ban quản lý rừng đặc dụng. Người trực
tiếp bảo vệ rừng không được hưởng lợi từ quá trình phát triển ngoài lương.
Nhiều ban quản lý rừng đặc dụng có thu nhập rất cao nhưng lương
của cán bộ bảo vệ rừng không tăng. Ví như, Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ bàng
thu 15 tỷ đồng năm 2008 (gấp ba lần vốn sự nghiệp để bảo vệ rừng), Vườn quốc
gia Cúc Phương thu trên hai tỷ đồng năm 2008; Vườn quốc gia Ba Vì thu gần hai
tỷ năm 2008.
Thực tế, rất nhiều vườn quốc gia có tiềm năng, nếu xây dựng được
cơ chế tốt, hoàn toàn có thể tăng thu nhập cho người làm nghề rừng.
Theo Giám đốc Vườn quốc gia Ba Vì Đỗ Khắc Thành, việc phát huy
tiềm năng và lợi thế của rừng đặc dụng (đặc biệt là du lịch sinh thái) hiện
chưa tương xứng.
Phát triển du lịch sinh thái, nhằm vừa bảo đảm việc bảo vệ và phát
triển rừng đặc dụng, vừa tăng thu nhập cho chính ban quản lý rừng đặc dụng; gắn
quyền lợi, thu nhập của người bảo vệ rừng với đầu tư phát triển, thực hiện mục
tiêu “Bảo tồn để phát triển - Phát triển để bảo tồn”.
Cục phó Cục Kiểm lâm Nguyễn Hữu Dũng cho biết, qua thời gian thí
điểm, những diện tích rừng cho các doanh nghiệp thuê để làm du lịch sinh thái
đều được bảo vệ tốt.
Diện tích tác động với rừng để xây dựng cơ sở hạ tầng du lịch chỉ
chiếm tỷ lệ nhỏ so với diện tích cho thuê. Một số diện tích rừng nghèo hoặc đất
trống do bị chặt phá trước đây được doanh nghiệp bảo vệ và chăm sóc, nên phục
hồi tốt.
Đặc biệt, nhiều người địa phương, nơi có Vườn quốc gia, được tuyển
dụng vào làm việc tại các khu du lịch sinh thái. Hoạt động du lịch cũng làm
tăng nhu cầu sử dụng nông sản, tiểu thủ công nghiệp của địa phương.
Luật Đa dạng sinh học - Luật dành cho thiên nhiên có hiệu lực từ 1-7-2009
Thông qua 8 chương, 78
điều quy định về nguyên tắc chính sách của Nhà nước về bảo tồn và phát triển
bền vững ĐDSH, Luật thống nhất những qui định liên quan đến ĐDSH như khu
bảo tồn thiên nhiên, ưu tiên bảo vệ động vật hoang dã; đánh giá, lưu giữ, bảo
quản nguồn gen và cơ sở dữ liệu về nguồn gen. Đặc biệt, Luật đã quy định các
vấn đề mới như quy hoạch bảo tồn; tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích, kiểm
soát sinh vật ngoại lai xâm hại; quản lý rủi ro của sinh vật biến đổi gen đối
với ĐDSH; tài chính cho bảo tồn và phát triển bền vững ĐDSH.
Tuy nhiên, để Luật ĐDSH
phát huy được hiệu quả trong đời sống, không phải là chuyện đơn giản.Theo Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và
Môi trường Nguyễn Xuân Cường nêu lên 6 vấn đề cần được đồng thời triển khai.
Bao gồm việc xây dựng các văn bản qui phạm pháp luật qui định chi tiết và hướng
dẫn thi hành Luật và văn bản hướng dẫn kỹ thuật về bảo tồn và phát triển bền
vững ĐDSH; giới thiệu, tập huấn cho cán bộ liên quan trong hệ thống cơ quan
quản lý; đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến các qui định của Luật đến các tầng lớp
cán bộ, nhân dân; tăng cường năng lực quản lý các cơ quan Nhà nước về ĐDSH;
nâng cao nhận thức, hình thành ý thức trách nhiệm về bảo tồn và phát triển ĐDSH
trong cộng đồng kết hợp với các công cụ kinh tế, chế tài hành chinh, hình sự
theo qui định của pháp luật; và huy động các thành phần kinh tế tham gia quản
lý, phát triển bền vững và sử dụng hiệu quả ĐDSH trong phát triển kinh tế, phục
vụ dân sinh.Từ nay đến năm 2013, Bộ TN&MT, cơ quan quản lý Nhà nước về ĐDSH
sẽ phải hoàn tất việc soạn thảo 15 văn bản pháp luật, bao gồm 4 Nghị định, 3
Quyết định và 8 Thông tư liên Bộ, cấp Bộ.
Trong điều kiện đó, chắc
chắn việc giúp cộng đồng dân cư nắm được Luật, tuân thủ Luật càng trở nên hết
sức quan trọng. Bởi nếu như việc soạn thảo văn bản pháp luật, đầu tư tài chính,
quy hoạch bảo tồn phát triển ĐDSH liên quan đến chính quyền, thì việc thực thi
luật lại liên quan nhiều đến cộng đồng dân cư, nhất là dân cư các khu Bảo tồn
thiên nhiên, các vùng đất ngập nước, những người sống nhờ vào hệ sinh thái tự
nhiên. Tuy nhiên, nếu được tuyên truyền đầy đủ, người dân sẽ vui mừng vì “Luật
không cấm họ khai thác, mà dậy họ cách khai thác thế nào cho lợi nhất. Họ còn
được chia sẻ lợi ích từ việc làm dịch vụ bảo vệ hệ sinh thái trong các hoạt
động du lịch, văn hóa… Luật ĐDSH là chìa khóa quan trọng để cộng đồng tham gia
bảo vệ ĐDSH…”
Khởi tố vụ án phá rừng, cướp gỗ ở Phong Nha - Kẻ Bàng
Trước
đó, ngày 8 và 9/4, khi lực lượng Kiểm lâm thuộc trạm Trộ Mợng phát hiện và tạm
giữ một số gỗ khai thác trái phép trong Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng ở khu
vực xã Phúc Trạch, hàng trăm người dân đã bao vây, xô xát với Kiểm lâm để cướp
gỗ tang vật.
Sau
2 tháng điều tra, hoàn chỉnh hồ sơ, Công an huyện đã ra quyết định khởi tố vụ
án hình sự số 38 về tội Chống người thi hành công vụ (điều 257 BLHS) và Vi phạm
các quy định về khai thác và bảo vệ rừng (điều 175 BLHS).
Đồng
thời, Công an huyện đã khởi tố 4 bị can đều ở xã Phúc Trạch (Bố Trạch - Quảng
Bình) về tội Chống người thi hành công vụ. Ngay sau đó, tại trụ ở UBND xã Phúc
Trạch, Công an huyện đã thực hiện lệnh bắt tạm giam đối với 3 trong số 4 bị
can.
Ngoài
ra, Công an huyện Bố Trạch, các ban, ngành tỉnh Quảng Bình đã phối hợp với
chính quyền huyện Bố Trạch và xã Phúc Trạch vận động, giải thích cho người dân
và yêu cầu họ ký cam kết không khai thác gỗ trái phép trong khu vực Phong Nha -
Kẻ Bàng.
Đông nhất là họ cò có đến 6 loại
gồm: Cò ma, cò lửa, cò quắm, cò ngà, cò trắng, cò xám. Ngoài ra, còn có một vài
loài chim khác như: Điên điễn, còng cọoc và một vài loài chim quý như Diệc mốc,
Giang sen, Khoang cổ trắng...
Sở dĩ Đầm Trích ngày càng có thêm
nhiều vườn chim là do diện tích rừng được khôi phục nhanh nên tạo hệ môi trường
sinh thái ngày càng tốt, có lợi cho chim về trú ngụ, tìm kiếm mồi và sinh sản.
Như vậy, đến nay trên địa bàn tỉnh
Kiên Giang có hàng chục vườn chim lớn kể cả khu vực bảo tồn chim Sếu đầu đỏ.
Tỉnh Kiên Giang đã có kế hoạch bảo
vệ, quản lý và khai thác các vườn chim vào mục đích du lịch, nhất là nghiêm cấm
săn bắt chim hoang dã để phục vụ các thực khách.
Bảo tồn đa dạng sinh học và ứng phó biến đổi khí hậu
Tuy
vậy, do nhiều nguyên nhân khác nhau làm cho ĐDSH của nước ta đã bị suy thoái
trầm trọng, mà nguyên nhân quan trọng là do biến đổi khí hậu (BĐKH) gây ra.
Ngược lại, sự suy giảm ĐDSH và xuống cấp của các sinh cảnh tự nhiên cũng góp
phần làm gia tăng BĐKH.
Mực nước biển dâng sẽ làm mất đi một vùng đất thấp rộng lớn, các hệ sinh thái
đất ngập nước của vùng đồng bằng các sông Cửu Long, sông Hồng, vùng có tiềm
năng sản xuất nông nghiệp lớn nhất và các sinh cảnh tự nhiên của nhiều loài bản
địa bao gồm cả các khu bảo tồn thiên nhiên, sinh quyển. Nhiệt độ tăng sẽ làm
thay đổi vùng phân bố và cấu trúc quần xã sinh vật của nhiều hệ sinh thái.
Sự tương tác hai chiều giữa BĐKH và ĐDSH mà hậu quả trực tiếp là sự mất đất,
suy thoái của các hệ sinh thái nông nghiệp, rừng, đất ngập nước có ảnh hưởng
trực tiếp tới đời sống và sự phát triển của con người. Vùng ven biển, tài
nguyên nước ngọt, ĐDSH, nhất là ĐDSH nông nghiệp và lâm nghiệp sẽ là vùng, lĩnh
vực chịu hậu quả nặng nề nhất của BĐKH. Đây chính là những thách thức lớn mà
Việt Nam gặp phải trong quá trình phát triển bền vững đất nước.
GS.TSKH Trương Quang Học, Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam cho
rằng: “Kế hoạch ĐDSH quốc gia và các địa phương cần đặc biệt lưu ý các giải
pháp ứng phó phù hợp với các kịch bản của BĐKH để trước hết bảo vệ và duy trì
nguồn gen trong các hệ sinh thái nông, lâm nghiệp, quản lý bền vững và phát
triển rừng đầu nguồn, các phương án phù hợp để chuyển đổi cơ cấu cây trồng với
các giống phù hợp (chịu hạn, chịu nhiệt), điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất, quy
hoạch cho các khu bảo tồn ở vùng đất thấp…”.
Công tác trồng rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng cũng cần được đẩy mạnh để có
hiệu quả về nhiều mặt trong đó có tác dụng là giảm thiểu khí nhà kính, thiên
tai, bảo tồn tài nguyên đất và nước. Cách tiếp cận tổng hợp, liên ngành và dựa
vào cộng đồng, dựa trên hệ sinh thái cần phải được quán triệt trong tất cả các
khâu từ hoạch định chính sách đến lập và triển khai kế hoạch về cả nội dung và
tổ chức. Các giải pháp cần toàn diện và đồng bộ từ thể chế, chính sách tới quy
hoạch, kế hoạch, công nghệ, trong đó xây dựng năng lực, nâng cao nhận thức và
hợp tác quốc tế cần được ưu tiên ở mức phù hợp.
Để ứng phó với biến đổi khí hậu, Việt Nam đã đưa ra các chương trình hành động,
giải pháp đến năm 2015 ở cả cấp trung ương và các địa phương. PGS.TS Trần Thục,
Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường đưa ra các kịch bản biến đổi khí
hậu về nhiệt độ, lượng mưa và nước biển dâng. Do tính phức tạp của BĐKH và
những hiểu biết chưa thật đầy đủ về BĐKH của Việt Nam cùng với các yếu tố tâm
lý, kinh tế, xã hội, tính chưa chắc chắn về các kịch bản phát thải khí nhà
kính... nên kịch bản hài hòa nhất là kịch bản trung bình được kiến nghị cho các
bộ, ngành và địa phương làm cơ sở để đánh giá tác động của BĐKH, xây dựng kế
hoạch hành động ứng phó với BĐKH. Các kịch bản BĐKH, nước biển dâng sẽ được cập
nhật theo lộ trình đã được xác định trong Chương trình mục tiêu quốc gia: cuối
năm 2010, hoàn thành việc cập nhật các kịch bản BĐKH có đầy đủ cơ sở khoa học
và thực tiễn cho từng giai đoạn.
Nhiệm vụ trọng tâm cần thực hiện ngay là đánh giá diễn biến khí hậu, xây dựng
các kịch bản BĐKH, đặc biệt là nước biển dâng và triển khai các dự án ưu tiên
ứng phó với BĐKH ở các lĩnh vực và địa phương nhạy cảm và dễ bị tổn thương nhằm
rút kinh nghiệm hoàn thiện kế hoạch hành động để có thể triển khai toàn diện
trong giai đoạn 2011-2015.
Vườn
quốc gia Yok Đôn phân bố trên địa bàn các huyện Buôn Đôn và Ea Súp với diện
tích hơn 115.000ha, lớn nhất cả nước. Đây là khu rừng phong phú và đa dạng các
loại động thực vật với nhiều loại quý hiếm đặc trưng cho rừng khộp và rừng
thường xanh nhiệt đới. Thời gian qua, lâm tặc thường xuyên xâm hại vườn quốc
gia, tàn phá rừng đặc dụng, khai thác hàng ngàn cây gỗ quý như giáng hương, cẩm
lai; săn trộm các loài động vật hoang dã, động vật quý.
Vườn quốc gia Chư Yang Sin trên địa bàn huyện Krông Bông, diện tích 59.000ha,
rất phong phú các loại động thực vật vùng núi cao nhiệt đới. Do lực lượng bảo
vệ quá mỏng, rừng lại phân bố theo chiều dài của dãy núi cao nên người dân địa
phương dễ dàng vào khai thác gỗ trái phép và săn bắt các động vật hoang dã,
nhất là khai thác trộm gỗ pơ mu, đặt bẫy săn beo lửa, voọc chà vá - những loại
động vật cực kỳ quý hiếm.
Khu bảo tồn thiên Ea Sô (huyện Ea Kar) là khu đa dạng sinh học nổi tiếng của
Việt Nam với nhiều loài động thực vật quý hiếm, trong đó có bò tót, bò rừng. 3
năm trở lại đây, do công tác quản lý bảo vệ bị buông lỏng, các loại gỗ quý bị
khai thác trộm khá nhiều, tệ nạn săn bắt động vật xảy ra thường xuyên. Đến nay,
bò tót và bò rừng không còn xuất hiện ở khu bảo tồn.
Tương tự, ở Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Ka tại huyện Lắk, bị tàn phá nhiều nên
rừng suy kiệt, số lượng các loài động vật giảm đáng kể. Hổ Đông Dương trước có
khá nhiều ở đây nhưng nay hầu như không thấy xuất hiện. Với tình trạng phá rừng
chưa chấm dứt, hệ sinh thái của rừng đặc dụng tiếp tục bị đe doạ, nguy cơ xoá
sổ khu bảo tồn cũng đang đến gần.
Tại hai khu bảo tồn thủy tùng Ea Ral (huyện Ea H’leo) và Trấp Ksơr (Krông Buk),
loài thực vật rất quý này tồn tại số lượng ít ỏi và đang bị lén lút chặt trộm;
diện tích rừng đặc dụng bị thu hẹp.
Triển lãm ảnh các loài chim và động vật hoang dã Việt Nam
Các bức ảnh của triển lãm lần này được chụp tại Vịnh Hạ Long và các Vườn Quốc
gia Cát Tiên, Mũi Cà Mau, ghi lại phong cảnh, động vật và người dân địa phương
sinh sống tại địa bàn các Công viên Quốc gia này. Điểm nhấn của triển lãm là các
bức ảnh về những loài chim quý hiếm của Việt Nam.
“Triển lãm thể hiện cam kết lâu dài của chính phủ Australia nhằm giúp đỡ Việt
Nam giải quyết các vấn đề về môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu”, ông
Allaster Cox, Đại sứ Australia tại Việt Nam cho biết.
Triển lãm do AusAID tài trợ với ảnh chụp của hai nhiếp ảnh gia thuộc AFAP và
tổ chức Bird Explorers, ông Kevin Vang và ông Wojciech Dabrowka. Trong 10 năm
qua, hai nhiếp ảnh gia này đã ghi hình được hơn 20% các loài chim ở Việt Nam,
trong đó có nhiều loài đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng.
Bird Explorers là một tổ chức phi lợi nhuận, hoạt động nhằm nâng cao nhận
thức về việc bảo tồn, gìn giữ những vẻ đẹp tự nhiên của hành tinh và sự đa dạng
của các loài chim. Tổ chức này cũng có sứ mạng quảng bá các bức ảnh động
vật thiên nhiên hoang dã và cảnh đẹp tự nhiên cho các cộng đồng phi lợi nhuận,
các tổ chức bảo tồn, bảo tàng, viện nghiên cứu và sinh viên tại các quốc gia
đang phát triển.
Xin giới thiệu sau đây một số bức ảnh trong bộ sưu tập:
Cù Lao Chàm, Mũi Cà Mau trở thành khu dự trữ sinh quyển thế giới
Cù
Lao Chàm - nơi hội tụ vẻ đẹp thiên nhiên và văn hóa
Theo thông tin giới thiệu được
UNESCO đăng tải sau khi Cù Lao Chàm và Mũi Cà Mau cùng 20 địa danh
thuộc 16 quốc gia khác được công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới, Cù Lao
Chàm đã đáp ứng về cả tiêu chí lịch sử - văn hóa cũng như sự phong phú của các
loài sinh vật.
“Cù Lao Chàm là vùng quần đảo ven biển nằm ở miền Trung Việt
Nam, nổi tiếng với các loài sinh vật biển như rặng san hô, động vật thân mềm,
giáp xác và tảo biển. Khu dự trữ sinh quyển này bao bọc lấy Hội An - một di sản
văn hóa thế giới - xưa vốn là một thương cảng chứng kiến sự giao thoa văn hóa
giữa Việt Nam và châu Âu” - UNESCO giới thiệu.
Cù Lao Chàm là một quần gồm 8 đảo lớn nhỏ nằm trên khu vực
biển có diện tích 15 km2 thuộc xã đảo Tân Hiệp (TP Hội An - Quảng Nam), phân bổ
theo hình cánh cung cách Hội An 19 km. Cù Lao Chàm có trên 1.500ha rừng tự
nhiên và 6.700ha mặt nước, được đánh giá là nơi có sự đa dạng sinh học hiếm có
trên thế giới. Trong đó, đảo lớn nhất là Hòn Lao, với khoảng 3.000 ngư dân sinh
sống bằng nghề đánh bắt hải sản.
Cù
Lao Chàm sở hữu rặng san hô rộng 165 ha, gồm 188 loài, 61 giống thuộc 13 họ
khác nhau. Khu vực này có hơn 200 loài cá, xuất hiện trong 500 ha rong biển,
tảo, cỏ biển… Ngoài ra, sự phong phú của rặng san hô, các thảm cỏ biển,
rong biển là môi trường sinh sống, phát triển lý tưởng của các sinh vật đáy như
thân mềm, giáp xác, da gai, giun… với mật độ dày đặc.
Không chỉ “giàu có” về các sinh vật biển, quần thể động,
thực vật trên cạn của Cù Lao Chàm cũng rất có giá trị. Xã đảo này có nhiều loài
cây quý hàng trăm năm như tuế, vông nem và là nơi có độ bao phủ của thảm thực
vật lớn. Điều kiện này cũng giúp các loài động vật phát triển, trong đó có 12
loài thú, 13 loài chim, 130 loài bò sát và 5 loài lưỡng cư. Hai trong số đó có
tên trong Sách đỏ Việt Nam là chim yến và khỉ đuôi dài.
Cù Lao Chàm - Hội An còn là một quần thể văn hóa, nơi còn
nhiều di tích của các nền văn hóa Sa Huỳnh, Champa và Đại Việt. Từ hơn 3.000
năm trước, nơi đây đã có người sinh sống và trong lịch sử, đay đã từng là một
thương cảng nức tiếng, là nơi neo đậu của các thuyền buôn quốc tế trong hành
trình giao thương trên biển.
UNESCO
đánh giá: với sự hội tụ những giá trị văn hóa và thiên nhiên, sự đa dạng sinh
học vốn có, Cù Lao Chàm - Hội An là địa chỉ lý tưởng để xúc tiến phát triển du
lịch sinh thái bền vững.
Mũi Cà Mau - ngôi nhà lý tưởng của nhiều loài sinh vật quý
Theo hồ sơ đăng ký, khu dự trữ sinh quyển Mũi Cà Mau có diện
tích 371.506 ha với 3 vùng: vùng lõi, vùng đệm và vùng chuyển tiếp, trải dài
trên 3 huyện địa đầu thuộc tỉnh Cà Mau.Vùng lõi được cấu thành từ 3 vùng nhỏ là
các phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau, Vườn Quốc gia U
Minh Hạ và dãy phòng hộ ven biển Tây.
Với các hệ sinh thái đặc trưng như: hệ sinh thái rừng ngập
mặn, hệ sinh thái đất ngập nước than bùn, hệ sinh thái biển... khu dự trữ sinh
quyển thế giới Mũi Cà Mau được coi là ngôi nhà chung của hàng nghìn loài sinh
vật và cũng là nguồn tài nguyên địa chất phong phú.
Hệ thống rừng ngập mặn ở đây được cho là đa dạng hàng đầu
thế giới, chỉ kém rừng ngập mặn ở Nam Mỹ. Ngoài cây đước, thảm thực vật ở rừng
ngập mặn Cà Mau còn có vẹt, sú, mắm, bần, chà là, dương xỉ… là cái nôi của hàng
trăm loài động vật, đặc biệt là các vườn chim tự nhiên.
Theo ghi nhận của Trung tâm nghiên cứu rừng ngập mặn
Cà Mau năm 2006, hệ sinh thái nơi đây có 22 loài cây ngập
mặn, 13 loài thú, 74 loài chim, 17 loài bò sát, 5 loài lưỡng cư, 14 loài tôm,
175 loài cá, 133 loài động thực vật phiêu sinh. Nhiều loài chim quý có
tên trong Sách đỏ như giang sen, bồ nông chân xám cũng được ghi nhận nơi đây.
Được gọi là vùng “đất nở”, bãi bồi phía tây Vườn quốc gia
Mũi Cà Mau có tổng diện tích 6.500 ha vẫn hàng năm lấn biển, mở rộng nơi trú
ngụ và phát triển của nhiều loài thủy sinh quý, là nơi cung cấp con giống thiên
nhiên cho tỉnh Cà Mau và các tỉnh miền Tây Nam Bộ.
Theo đánh giá của UNESCO: Mũi Cà Mau thể hiện sự liên kết
các hệ sinh thái ở những vùng phù sa mới. Giá trị bảo tồn của Mũi Cà Mau còn
thể hiện ở vai trò là nơi tiếp giáp giữa rừng đước và rừng tràm, và là nơi sinh
sản và phát triển của các loài thủy sinh.
UNESCO cho rằng, cần có kế hoạch phát triển bền vững khu vực
này với trọng tâm là du lịch sinh thái kết hợp với du lịch văn hóa, đồng thời
cần đào tạo để cải thiện nông nghiệp và nghề cá nơi đây.
Nhiều loài động thực vật quí ở Vườn quốc gia Phú Quốc
Về động vật có 28 loài thú, trong đó 5 loài được ghi vào
sách Đỏ Việt Nam; 119 loài chim được phát hiện, với 4 loài được ghi vào danh
lục Đỏ của tổ chức IUCN và 3 loài ghi vào sách Đỏ Việt Nam; Bò sát có thêm 47
loài, trong đó 9 loài được ghi vào danh lục IUCN và 18 loài ghi vào sách Đỏ
trong nước.
Về hệ thực vật, Vườn quốc gia Phú Quốc hiện có 1.164 loài thực vật bậc cao.
Riêng loài phong lan có 80 loài, trong đó có nhiều loài quý hiếm vùa mới hiện
như: Lan Vân Hài (Paphiopedlium callosum Stein), Ái Lan Lá Đẹp (Malaxis
calophylla), Âm Lan Núi (Aphyllorchis Montana)… Ngoài ra, tại đây
còn có 8 loài gỗ quý hiếm được ghi nhận; trong đó có tới 7 loài có khả năng là
đặc hữu chỉ có tại Phú Quốc…
Theo ông Phạm Quang Bình-Giám đốc Vườn quốc gia Phú Quốc, kể từ khi Vườn quốc
gia Phú Quốc được thành lập vào năm 2002, đến nay đã bảy năm nhưng chưa để xảy
ra vụ cháy nào đáng kể.
Chính nhờ công tác bảo vệ rừng vườn được đảm bảo đã giúp cho số lượng cá thể
các loài động thực vật tại vườn không ngừng phát triển, nhất là các loài động
vật hoang dã như nai, heo rừng, khỉ, chồn, kỳ đà, càng tôm, rắn...
Vườn quốc gia Phú Quốc có hệ sinh thái và sinh cảnh rất đa dạng và phong phú.
Hiện nay Vườn quốc gia Phú Quốc rất cần sự hợp tác quốc tế trên lĩnh vực nghiên
cứu khoa học và nếu các tổ chức quốc tế được vào vườn nghiên cứu nhiều hơn thì
sẽ còn nhiều loài động thực vật quý hiếm mới sẽ được phát hiện, ghi nhận tại
đây./.
UNESCO xét chọn hai khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm và Mũi Cà Mau tại Việt Nam
Ông Nguyễn Sự, Bí thư Thành ủy Hội An (Quảng Nam) cho
hay, theo lời mời của trợ lý Tổng Giám đốc UNESCO (phụ trách khoa học tự nhiên)
và Ủy ban quốc gia UNESCO VN, Hội An sẽ cử đại diện tham gia phái đoàn VN
dự kỳ họp thứ 21 của Ủy ban Điều phối quốc tế chương trình con người và
sinh quyển diễn ra tại Jeju (Hàn Quốc) từ ngày 25 – 29/5/2009.
Hội nghị sẽ thảo luận các hoạt động chung của Chương trình
MAB cũng như việc xây dựng khu dự trữ sinh quyển thành những mô hình phát triển
bền vững. Đặc biệt, hội nghị lần này sẽ xem xét các hồ sơ đề cử khu dự trữ sinh
quyển thế giới. Trong đó có hai hồ sơ của VN đề cử UNESCO công nhận Mũi Cà Mau
và Cù Lao Chàm (Hội An) là khu dự trữ sinh quyển thế giới.
Theo ông Phạm Sanh Châu, Tổng Thư ký Ủy ban UNESCO VN,
nhìn chung hai hồ sơ này đã được các chuyên gia UNESCO đánh giá có triển vọng.
Cù Lao Chàm thuộc TP Hội An, tỉnh Quảng Nam có đầy đủ những yếu tố cơ bản để
được công nhận trong lần này.
Tuy nhiên kết quả cuối cùng còn phụ thuộc chất lượng bảo vệ
hồ sơ của cơ quan đề cử và quyền quyết định của Tổng Giám đốc UNESCO và Hội
đồng Điều phối quốc tế lần này.
Theo hồ sơ đề nghị công nhận Cù Lao Chàm là khu dự trữ sinh
quyển thế giới. Cù Lao Chàm nằm cách Hội An 19km về phía biển Đông (thuộc xã
đảo Tân Hiệp), gồm 8 hòn đảo lớn nhỏ. Trong đó, lớn nhất là Hòn La với tổng
diện tích 15km2, là nơi có dân cư sinh sống với dân số 3.000 người thuộc các
thôn Bãi Làng, Cấm, Bãi Oong và Bãi Hương. 85% thu nhập của dân đảo là từ nguồn
lợi biển (đánh bắt thuỷ sản).
Cù Lao Chàm có 1.549ha rừng tự nhiên và 6.716ha mặt nước với
sự đa dạng sinh học vô cùng phong phú. Trong đó có 500ha rong, tảo, cỏ biển, 5
thảm cỏ biển, 8 thảm rong biển; 165ha san hô gồm khoảng 188 loài, 61 giống và
13 họ; khoảng 202 loài cá thuộc 85 giống, 36 họ. Sự đa dạng loài của các sinh
vật đáy lớn bao gồm các loài thân mềm, loài giáp xác, động vật da gai và các
loài giun nhiều tơ với mật độ trung bình 259 cá thể/400m2…
Khánh thành khu nuôi gấu bán hoang dã đầu tiên ở Việt Nam
Đây là dự án hợp tác giữa AAF với Bộ Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn với mục tiêu cứu hộ và nuôi dưỡng các cá thể gấu bị sắn bắt và
nuôi nhốt trái phép. Toàn bộ trung tâm cứu hộ Gấu Việt Nam rộng 12 ha, được đầu
tư 3,5 triệu USD, sau khi hoàn thành có khả năng tiếp nhận và chăm sóc khoảng
200 con gấu cùng một lúc.
Khu nhà gấu đôi này mới này là 2 trong 10 khu nuôi gấu bán tự
nhiên, mỗi khu bao gồm khuôn viên rộng 2.500m2 với 1 nhà nuôi gấu có 12 buồng
gấu và 2 khu chăm sóc đặc biệt. Khu nhà gấu đôi này là một phần của dự án Trung
tâm cứu hộ Gấu Việt Nam, được xây dựng và hoàn thiện trong 7 tháng. Hiện tại,
một khu dành cho Gấu ngựa và khu bên kia dành cho những cá thể gấu chó nhỏ hơn.
Khuôn viên bán tự nhiên được thiết kế nhằm khuyến khích hoạt động tự nhiên của
gấu với bể bơi đá, cây và các giàn khung cho gấu leo trèo.
Ông Tuấn Bendixsen – Giám đốc AAF Việt Nam cho biết: Đây là
Trung tâm Cách ly-Cứu hộ gấu đầu tiên của Việt Nam và có các trang thiết bị vào
loại hiện đại nhất châu Á, mới đi vào hoạt động từ tháng 4/2008. Số gấu chuyển
về Trung tâm được các cán bộ nhân viên chăm sóc đánh giá tình trạng sức khỏe,
tính cách và các hành vi.
Sau đó, gấu được chuyển sang khu nhà phục hồi sức khoẻ, sang khu quây gấu bán
tự nhiên. Khu cách ly được vận hành khoa học, khách tham quan vào khu cách ly
phải qua tắm khử trùng, không được phép vào các buồng gấu vì sự an toàn của
người, đồng thời nhằm đảm bảo gấu cũng như các loài động vật khác khỏi nhiễm
mầm bệnh…
Để không ảnh hưởng tới môi trường của Vườn quốc gia Tam Đảo,
trung tâm đã đầu tư xây dựng hệ thống xử lý chất thải hiện đại nhất. “Thay vì
chỉ đơn giản tận dụng các nguồn nước và loại bỏ các chất thải, chúng tôi lấy
nước bị ô nhiễm từ sông và đưa vào hệ thống lọc để sử dụng - sau đó chúng tôi
làm sạch và tái sử dụng nước thải! Hệ thống xử lý ban đầu là lọc nước sông đến
mức độ sạch nhất định mà gấu có thể uống được và chúng ta có thể sử dụng được”-
ông Tuấn Bendixsen cho biết.
Trung tâm Cứu hộ Gấu Việt Nam cho biết sẽ hoạt động như một
trung tâm giáo dục để nâng cao nhận thức về bảo tồn và chăm sóc gấu tại Việt
Nam, với hy vọng 4.000 gấu nuôi trái phép để lấy mật ở Việt Nam sẽ được trả tự
do. Sau một năm đi vào hoạt động, trung tâm Cứu hộ gấu VQG Tam Đảo đã tiếp
nhận 22 con gấu hoang dã.
Theo Dự thảo Nghị định, khu dự trữ
thiên nhiên cấp tỉnh phải có hệ sinh thái tự nhiên quan trọng đối với địa
phương, hệ sinh thái đặc thù hoặc đại diện cho các hệ sinh thái của địa phương
đó.
Các khu bảo tồn thiên nhiên nêu trên phải đồng thời có giá trị đặc biệt về sinh
thái, môi trường phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học, giáo dục, du lịch, nghỉ
dưỡng.
Các khu bảo tồn đã được thành lập
trước khi Luật ĐDSH có hiệu lực (01/07/2009) phải được rà soát việc đáp ứng
các tiêu chí chủ yếu của khu bảo tồn để chuyển đổi cho phù hợp trước ngày 31/12/2010.
Mỗi loài ưu tiên được bảo vệ, bảo
tồn thông qua 1 chương trình bảo tồn riêng và được giao cho 1 cơ quan đầu mối
chịu trách nhiệm về công tác bảo tồn loài đó. Loài được ưu tiên bảo vệ mất nơi
sinh sống tự nhiên thường xuyên hoặc theo mùa thì được nuôi dưỡng trong các cơ
sở bảo tồn ĐDSH. Mẫu vật di truyền của các loài này phải được lưu giữ lâu dài
phục vụ mục đích bảo tồn ĐDSH.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quyết định việc cho phép săn bắt các
loài hoang dã thuộc danh mục được ưu tiên bảo vệ từ hệ sinh thái rừng về nuôi
tại cơ sở bảo tồn ĐDSH. Đối với loài hoang dã từ hệ sinh thái đất ngập nước,
biển, núi đá vôi và các vùng đất chưa sử dụng về nuôi tại cơ sở bảo tồn ĐDSH do
Bộ Tài nguyên và Môi trường quyết định.
Hộ gia đình, cá nhân sinh sống hợp pháp trong khu bảo tồn được khai thác đất,
mặt nước, rừng phục vụ canh tác nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và mục đích
khác không bị cấm. Được ưu tiên lập dự án khai thác khu bảo tồn phục vụ du lịch
sinh thái và các hoạt động dịch vụ khác. Được chia sẻ lợi ích từ các hoạt động
kinh doanh du lịch, khai thác các nguồn lợi, các dự án hỗ trợ khu bảo tồn, từ
việc tiếp cận nguồn gen trong khu bảo tồn và các lợi ích khác...
Theo điều tra của của Bộ Tài nguyên và Môi trường, ĐDSH ở
Việt Nam tập trung chủ yếu ở các khu rừng đặc dụng tự nhiên, các vùng đất
ngập nước, các vùng đồi, núi đặc biệt là núi đá vôi và các hệ sinh thái biển,
hải đảo.
Việt Nam hiện được xếp vào nhóm 15 nước hàng đầu thế giới về số loài thú,
nhóm 20 nước hàng đầu về số loài chim, nhóm 30 nước hàng đầu về số loài thực
vật và lưỡng cư bị đe dọa tuyệt chủng.
Hiện cả nước đã thành lập 126 khu bảo tồn thiên nhiên với tổng diện tích lên
tới 2,5 triệu ha, chiếm 7,6% diện tích tự nhiên và hầu hết tập trung trên đất
liền.
Bầu chọn 7 kỳ quan thiên nhiên thế giới: Vịnh Hạ Long vươn lên vị trí thứ 2 bảng G
Vị trí đứng đầu của bảng này thuộc
về bãi biển Cox Bazar (Bangladesh), vị trí thứ 4 thuộc về danh thắng Milford
Sound Fiord - Công viên quốc gia Fiordland. Tính đến thời điểm hiện nay, chỉ
còn hơn 2 tháng nữa thì cuộc bầu chọn sẽ bước vào giai đoạn quyết định để bầu
ra 77/261 danh thắng có số phiếu cao nhất.
77 danh thắng sẽ tiếp tục chạy đua
để chọn ra 7 kỳ quan thiên nhiên thế giới.
Tuy nhiên, các đại biểu đã
không đạt được tiến triển nào trong thương lượng về thỏa thuận chung nhằm cắt
giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính.
Tuy nhiên, các đại biểu đã không đạt được tiến triển nào trong thương lượng về
thỏa thuận chung nhằm cắt giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính.
Hiến chương Syracuse, gồm 25 điểm, đã nhấn mạnh giá trị kinh tế của đa
dạng sinh học, chỉ rõ mối liên hệ giữa bảo vệ đa dạng sinh thái với cuộc chiến
chống tình trạng trái đất ấm lên. Hiến chương khẳng định "Bảo vệ đa dạng
sinh học và duy trì các hệ sinh thái tự nhiên đóng vai trò quan trọng trong
điều tiết khí hậu toàn cầu".
Theo các đại biểu, vấn đề đa dạng sinh học thời gian qua đã không được
quan tâm đúng mức và điều này cần được thay đổi càng sớm càng tốt, vì đa dạng
sinh học chính là một lợi thế phát triển kinh tế không thể thiếu đối với mọi
quốc gia, giàu cũng như nghèo.
Ông Martin Bursik, Bộ trưởng Môi trường Cộng hòa Séc, nước hiện là Chủ
tịch luân phiên Liên minh châu Âu, nhận định G-8 là diễn đàn tốt nhất để đưa ra
thông điệp: vấn đề đa dạng sinh học phải chiếm một vị trí ưu tiên hàng đầu
trong chương trình thế giới về môi trường.
Theo tính toán của Liên hợp quốc, chính con người là tác nhân làm tăng
tốc độ tuyệt chủng của các loài sinh vật nhanh gấp 1.000 lần so với tốc độ tự
nhiên. Ước tính, cứ mỗi giờ có ba loài sinh vật bị biến khỏi Trái Đất.
Tại hội nghị, các đại biểu cũng thảo luận về thỏa thuận mới thay thế Nghị
định thư Kyoto về cắt giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính (ký từ năm 1997 và sẽ
hết hiệu lực vào 2012).
Thỏa thuận mới này dự kiến sẽ được đưa ra ký tại Hội nghị Liên hợp quốc
về biến đổi khí hậu lần thứ 15 (COP 15) ở Copenhagen, Đan Mạch cuối năm nay.
Tuy nhiên, các đại biểu vẫn bất đồng lớn về nhiều vấn đề, như hạn ngạch cắt
giảm khí thải và nguồn tài chính hỗ trợ cho các nước đang phát triển thay đổi
công nghệ sản xuất.
Ngoài vấn đề trên, tại hội nghị lần này, Pháp đã đưa ra sáng kiến hỗ trợ
châu Phi thực hiện phát triển bền vững. Phái đoàn Pháp mong muốn tại hội nghị
thế giới về môi trường ở Copenhagen, nhóm G8 sẽ đề nghị các nước phát triển tài
trợ 100% cho các dự án năng lượng sạch tại châu Phi với chi phí khoảng 400 tỷ
USD trong 20 năm.
Chúng tôi tìm đến chân Km 0 đường 20
Quyết Thắng ở xã Sơn Trạch để tìm gặp Hồ Khanh, người đã dày công nhiều ngày
tháng lăn lộn giữa đại ngàn Phong Nha để đưa hang Sơn Đoòng lên bản đồ thế
giới.
Anh Hồ Khanh năm nay 40 tuổi, trẻ và chắc nịch như một gã
trai sơn tràng thứ thiệt. Cũng phải, trước khi về mở quán cà phê “cóc” ven
đường và làm thuê làm mướn mưu sinh, Hồ Khanh từng là một tay đi trầm có tiếng
là đạp rừng không biết mệt.
Trong một chuyến đi như thế vào năm
1991, đội tìm trầm của anh Hồ Khanh chia làm 4 mũi, xuyên rừng bạt núi
kiếm kế sinh nhai. Đi cả ngày đường chợt trời đổ mưa nên tìm chỗ trú chân. Hồ
Khanh chợt thấy một cửa hang, do đá và cây rừng che kín nên trông cũng
“thường”.
Do đã gặp vô số cửa hang trong khu
vực đá vôi vùng Hạ Đoòng, Hồ Khanh cũng chẳng có ấn tượng gì đặc biệt với cái
hang này. Chỉ có một sự khác biệt khiến anh nhớ mãi, đó là khi bước tới cửa
hang thì cảm thấy rõ luôn có một luồng gió mát lạnh trong hang thổi tốc ra,
tiếng gió rít qua vách đá nghe lạnh người. Tò mò đấy, nhưng nhìn trong hang tối
om, lạnh lẽo nên Hồ Khanh chỉ dám ngồi nghỉ ngoài cửa hang rồi đi tiếp.
Năm 1992, Hồ Khanh bỏ nghề trầm, trở
về làm ruộng và làm thuê mướn quanh vùng để sống nên ký ức về cái hang “gió rít
lạnh người” cũng lùi dần, nhường chỗ cho những toan lo cơm áo gạo tiền trong
người bố trẻ của ba đứa con thơ. Thời gian đẩy đưa, những công việc thường nhật
của người lao động nghèo như guồng quay kéo anh rời xa hang Sơn Đoòng cùng hàng
chục hang khác mà anh đã tìm thấy trong thời trai trẻ tìm trầm.
Mãi đến năm 2006, khi vợ chồng
Howard Limbert nghe người địa phương kháo mới tìm đến với Hồ Khanh sau nhiều
chuyến tìm kiếm không được mỹ mãn. Nghe Hồ Khanh kể về một cái hang “gió rít
24/24 tiếng đồng hồ”, kinh nghiệm và sự nhạy cảm của một chuyên gia trong
Limbert đã nhận biết được sự đặc biệt trong cái hang này.
Hồ Khanh nhận lời làm trưởng nhóm,
dẫn đoàn thám hiểm hang động Hoàng gia Anh với khoản thù lao ít ỏi. Hai năm
ròng rã với không biết bao nhiêu chuyến đi, Sơn Đoòng vẫn khéo léo giấu mình
dưới những rặng đá vôi huyền diệu của Phong Nha, dù đoàn thám hiểm đã khảo sát
được nhiều hang động đẹp khác.
Howard về nước cuối năm 2007, không
quên dặn Hồ Khanh tiếp tục cuộc kiếm tìm. Y lời hẹn, Hồ Khanh lại tự bỏ tiền
nhà sắm sửa lương thực, nước uống lên đường trong một ngày đầu năm 2008 với ý
nghĩ đơn giản: “không tìm được động thì đi du xuân vậy”. Hai ngày dép cao su xà
cạp vạch núi dò tìm, đến 2 giờ chiều ngày thứ hai, miệng hang đã hiện ra trước
mắt Hồ Khanh sau 17 năm “lẩn trốn”.
Hồ Khanh nhớ lại: “Cái hang rộng là
thế, nhưng đá và cây rừng khéo che khuất cả, đi cách chừng 20 - 30m mà không
tinh ý là không nhận biết được đâu”. Hồ Khanh chạy vội đến cửa hang, gió vẫn
táp vào mặt mát lạnh, tiếng rít vẫn như trong ký ức.
Cuộc chinh phục Sơn Đoòng
Lần đó, đam mê thám hiểm ăn vào máu Hồ Khanh sau
những chuyễn dẫn đường cho đoàn người Anh nên khi tìm thấy hang, Hồ Khanh mạnh
dạn bấm đèn pin bước vào. Theo ước tính của Hồ Khanh, cửa hang cao, rộng đều
hơn trăm thước, nhưng càng bước vào càng rộng thênh thênh, rọi đèn pin không
thấy đỉnh vòm. Vào sâu chừng trăm thước, tiếng gió càng mạnh, lại có tiếng nước
chảy dội vào vách đá nhưng đường tối như mực. Hồ Khanh đành quay ra.
Bằng kinh nghiệm của của mình, Hồ Khanh đoán chắc chắn trong
sâu có sông ngầm và ghềnh khúc khuỷu, lại có ít nhất thêm một miệng hang hút
gió nên ở cửa này gió mới tốc mạnh theo cơn như thế. Nhưng đoán để mà đoán thế,
còn Hồ Khanh vẫn nghĩ: hang Tiên Sơn và động Phong Nha là nhất, cái hang này có
thể to nhưng sao sánh được, đã gọi “Phong Nha đệ nhất động” mà. Mặc dù vậy, đã
được Limbert dặn dò và quyết không để Sơn Đoòng lưu lạc thêm lần nữa, Hồ Khanh
ghi chép kỹ càng trước khi ra về.
Hơn một năm sau, đến cuối tháng
3/2009 Limbert mới quay lại và nhận được tin tốt lành từ Hồ Khanh. Limbert và
đoàn lập tức lên đường, chuyến khảo sát dài ngày hơn thường lệ. Hồ Khanh dẫn
đầu cùng với 4 thành viên đoàn thám hiểm và vài người gùi đồ vượt rừng đến Sơn
Đoòng.
Vừa bước chân vào cửa hang, đón làn
gió mát lạnh từ trong hang sâu, đoàn thám hiểm đã trầm trồ. Dù không rành Anh
ngữ, nhưng nhìn nụ cười và ngón tay cái ra hiệu “number one” của Limbert, Hồ
Khanh hiểu đây không phải là một cái hang bình thường như hàng chục hang mà anh
đã dẫn đoàn tới trong ba năm hợp tác.
Hồ Khanh kể: “Càng vào trong, hang
càng rộng, có đoạn rộng tới 400m. Đường đi khó và trong ánh sáng chập chờn của
đèn pin, đoàn phải thòng thừng trước rồi cứ thế lần theo thừng mà đi. Trong hang
có sông ngầm nước mát lạnh, trong vắt. Có đoạn qua ghềnh, nước đổ như thác
nhỏ”.
Hang có nhiều rặng thạch nhũ hùng
vĩ, đẹp như chốn Bồng Lai. Đoàn thám hiểm gọi loại nhũ trong hang là nhũ già,
bởi theo các dấu vết địa chất thì loại thạch nhũ này đã hình thành qua hàng
triệu năm. Theo Hồ Khanh, cách dễ nhất để phân biệt nhũ già và nhũ non là nhũ
già “dưới đất mọc lên”, còn nhũ non “trên đỉnh mọc xuống”.
Đúng như Hồ Khanh phán đoán, khi vào
được khoảng 2,5 km, đỉnh hang lộ ra một cửa vòm cao hun hút nhìn thấy trời. Đã
quen với bóng tối, cả đoàn lóa mắt vì ánh sáng chói chang của mặt trời.
Đi được 6,5 km chiều dài, đoàn quay
trở lại cửa hang sau khi đã quay phim, chụp hình, vẽ khảo sát và dùng hệ thống
định vị toàn cầu (GPS) để xác định vị trí của Sơn Đoòng trên bản đồ thế giới.
Sơn Đoòng được đoàn xác nhận là hang
lớn nhất thế giới, lớn hơn hang Deer - vốn được coi là thiên hạ đệ nhất động
hiện nay. Còn Hồ Khanh, sáng nay vẫn ngồi nhấm nháp cốc trà, hút điếu thuốc
chuẩn bị cho một ngày đi xáo hồ để kiếm sống.
Anh không hề biết, một kỳ tích vừa
được ghi nhận. Còn chúng tôi cũng không biết, rằng buổi nói chuyện với người
khách lạ đã làm anh mất đi nửa công phụ hồ.