|
Tháng 7-2003, Vườn quốc gia Phong
Nha-Kẻ Bàng (thuộc địa phận xã Sơn Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình) được
UNESCO công nhận là Di sản thiên
nhiên của thế giới.
Từ thị xã Đồng Hới (tỉnh lỵ tỉnh Quảng Bình), theo quốc lộ 1A ra ngã ba Hoàn
Lão (huyện lỵ huyện Bố Trạch), xe chúng tôi rẽ theo tỉnh lộ 2 và tiếp quốc lộ
15 đi chừng 30 km thì gặp một vùng đồi núi nhấp nhô xen lẫn những vạt ruộng nhỏ
đất đai không lấy gì làm màu mỡ; ngước mắt lên là đụng phải đỉnh núi sừng sững,
trên đó người ta dựng dòng chữ rất nổi bật:“Di sản thiên nhiên thế giới Phong
Nha-Kẻ Bàng”. Bây giờ nói đến Quảng Bình là trước tiên người ta nói tới Phong
Nha-Kẻ Bàng và tìm cách đến đây cho bằng được.
THEO DÒNG SÔNG SON
Tại Trung tâm đón tiếp khách du lịch của di tích Phong Nha-Kẻ Bàng, chúng tôi
xuống thuyền máy đi theo sông Son vào động Phong Nha. Sông Son rộng chừng 35-40
mét, nước xanh ngắt, trong thấu đáy, nhìn rõ cả những đàn cá đang bơi. Nước thì
xanh như màu xanh đồng, nhưng lại gọi là sông Son vì vào mùa mưa, nước mưa bào
mòn đất đá ở các triền núi đổ xuống làm nước sông đỏ như màu gạch son. Nhưng có
một câu chuyện ly kỳ khác, có lẽ đã ra đời từ thời khai thiên lập địa, cũng
giải thích về tên của dòng sông Son. Chuyện kể ngày xưa, có vị tiên sư đại pháp
người Trời thường xuống du ngoạn cảnh hạ giới, thấy yêu mến nơi này bèn ở lại
rồi dạy dân cách làm ăn. Một năm kia xảy ra đại hạn, muôn vật khô héo; để cứu
dân, vị tiên sư đại pháp lén về Trời khơi trộm nguồn nước từ thiên cung chảy
xuống nơi là dòng sông Son bây giờ. Dòng nước tưới mát cỏ cây, cứu sống muôn
loài, nhưng vị đại sư bị triệu về Trời chịu hình phạt. Dân làng cảm kích tấm
lòng son của vị đại sư nên đặt tên cho sông này là sông Son. Sông Son chảy từ
động Phong Nha và nối vào sông Gianh.
Hai bên bờ sông Son là những ngọn núi cũng xanh ngắt. Thuyền máy chở khách du
lịch chạy xuôi ngược san sát trên sông. Thi thoảng mới gặp vài cái thuyền nhỏ
đánh lưới cá, vớt rong rêu; đôi chỗ thấy cảnh bờ tre ngọn uốn cong mềm mại như
cần câu, lũ trẻ con ra tắm sông, nô giỡn trong làn nước tung toé; mẹ con đàn bò
dẫn nhau xuống uống nước; mấy cô con gái ra gội đầu, giặt áo, rửa rau, vo gạo…
trên những cây cầu tre bắc lài ra mặt sông. Khung cảnh thật thanh bình và dễ
làm cho người ta nhớ đến một vùng nông thôn xa ngái nào đó tận trong ký ức… Có
lần tôi đi du lịch trên sông Ly ở Quế Lâm, Trung Quốc. Sao tôi thấy khung cảnh
trên sông Ly giống sông Son thế, cũng một dòng chảy giữa hai bờ là các dãy núi.
Có cái khác là sông Ly thì dài hơn, đi thuyền máy mất cả buổi, núi cũng hiểm
trở hơn và thi thoảng dọc bờ sông, nơi thuyền của chúng tôi đi ngang, ngoài
những cảnh thật người Trung Quốc còn sắp đặt những cảnh “nhân tạo” để du khách
khỏi cảm thấy đơn điệu. Như cảnh người câu cá rồi ngồi mổ cá trên những tảng
đá; hay trên chiếc bè bằng tre của một gia đình ngư dân, thấy có một đàn 4-5
chú chim đen tuyền, to cỡ con vịt xiêm, cứ đứng bất động như ngủ, nhưng thi
thoảng lại nhanh như cắt lao vút xuống sông, sau đó ngoi lên thuyền cho người
chủ tóm lấy cổ và móc từ trong họng chúng ra một con cá vẫn còn nguyên vẹn.
Nghe nói người dân vùng này có cách huấn luyện chim để dùng chúng đi săn cá.
Rồi cảnh các diễn viên quần chúng ăn mặc quần áo dân tộc, hát dân ca, biểu diễn
những điệu múa cũng trên những cái bè neo dọc bờ sông cho khách nhìn ngắm và
biết được vài nét về sinh hoạt văn hóa của người dân tộc Choang sống ở đây.
Chợt nghĩ nếu trên sông Son của vùng Phong Nha –Kẻ Bàng mà cũng làm mấy cảnh
“nhân tạo” như thế thì không biết sẽ ra sao?
Thuyền du lịch trên sông Son đều là thuyền máy, còn khá mới, trang trí đầu rồng
và sơn màu khá bắt mắt, nổi bật trên mặt nước sông xanh . Trên thuyền có ghế
ngồi chắc chắn, có áo phao cứu sinh cho từng ghế, mỗi thuyền chở được 15 người.
Bến thuyền ngăn nắp, có đội quản lý, bán vé, xếp tài; làm ăn có vẻ quy củ.
Người lái thuyền cho tôi hay dân Phong Nha bây giờ đổ tiền ra làm nghề dịch vụ
du lịch, trong đó có nghề đưa đón khách bằng thuyền máy, đời sống vì thế khấm
khá hơn. Có điều là thuyền máy gây tiếng ồn nhiều quá, mùi dầu máy xả ra khét
lẹt, khiến cho cái thơ mộng của dòng sông bị tổn hại khá nhiều. Nhưng thuyền
máy có ưu thế là chở một lúc được đông người, chạy chỉ mất 30 phút. Nếu đi bằng
thuyền chèo tay lóc cóc, thì có thơ mộng đấy, nhưng một ngày chở được bao lăm
khách, đi bao giờ mới đến Phong Nha và còn lấy đâu thời gian thăm cả động nước
Phong Nha lẫn động khô Tiên Sơn? Thời buổi này cái gì cũng cần phải nhanh, phải
nhiều, phải năng suất cao, nên cách cảm xúc cũng phải “đổi mới” khác trước đi
vậy! Nghe nói ở ngoài chùa Hương Tích, người ta cũng dùng thuyền máy chở khách
qua bến Đục, suối Yến ầm ầm cả rồi …
ĐÚNG LÀ “ĐỆ NHẤT KỲ QUAN”!
Thuyền tắt máy, người chèo thuyền dùng sào đưa thuyền lặng lẽ tiến vào trong
lòng động Phong Nha. Cửa động hình thang, cao chừng 10 mét, rộng 20-25 mét. Lọt
vào trong động, cảm giác oi nồng của mùa hè nơi miền Trung gió Lào lập tức biến
mất. Trong lòng động mát như trong căn phòng gắn máy lạnh. Tôi nghĩ, đấy là cảm
giác ai cũng nhận thấy giống nhau, chứ còn từ đây vào trong động, một thế giới
u linh, kỳ thú … sẽ hiện ra; và chúng huyền ảo đến mức sự cảm nhận của chúng ta
có thể không ai giống ai nữa.
Theo tài liệu, Phong Nha đã có nhiều người đặt chân đến; từ xa xưa người Chăm
và người Việt đã khám phá động Phong Nha và dùng nó vào việc của mình. Các sử
gia phong kiến, các nhà thám hiểm phương Tây, các nhà khoa học Việt Nam, và
đông đảo nhất là khách du lịch trong nước và nước ngoài đã lần lượt đến đây;
đến ngày càng đông. Ta thử xem họ đã nói gì về Phong Nha? “Lưng động dốc như
vách, âm u sâu thẳm, trong động thạch nhũ rủ xuống, hoặc như cây hoa, chuỗi
ngọc, hoặc như tượng Phật, hoặc như gấm vóc, phong cảnh thanh u…” (Đại Nam nhất
thống chí). Tháng 7-1924, nhà thiên văn người Anh là Baton thám hiểm Phong Nha
14 ngày và cảm xúc rằng Phong Nha đẹp như một mê cung không kém gì các hang
động nổi tiếng thế giới. “Một số thạch nhũ mọc trông hệt những đèn lồng trong
những buổi dạ hội, đường xếp rất khéo; một số khác treo lơ lửng như những cánh
hoa, đài hoa. Một vài vách hang lại bao phủ bằng những ống dài như những ống
sáo của những chiếc phong cầm lớn trong nhà thờ. .. Toàn bộ chỗ nào cũng trau
chuốt, nổi bật vì những chi tiết tỉ mỉ” (P.A- Tạp chí Extrise Asie, số 34 năm
1929). “Vô số tượng đá lởm chởm, đủ mọi hình thù kỳ dị, sắp xếp hỗn độn hết sức
nên thơ, mang tất cả màu sắc của cầu vồng; trong đó có thể thấy bên cạnh những
màu hồng nhạt của một bức tranh của Vatteau là màu xanh da trời của một bức
tranh khác của Raphael; màu hoàng thổ và màu chân son với ánh sáng phản chiếu
màu đỏ chói và màu xanh không bao giờ phai của xanh xanh đồng; tất cả đua nhau
soi mình trong dòng nước…” (Nhật ký thám hiểm Phong Nha ngày 24-5-1929 của
Charly, Qualaggi, Buoffier –người Pháp). “Những mảng đá thật lớn treo lơ lửng
trên vòm động như sắp sửa rơi, nhìn trong cảnh nửa tối nửa sáng trong lòng động
dưới đủ mọi góc cạnh trông giống bộ mặt hiền từ của các vị thánh hay nét hung
tợn của ác quỷ”. Và do đó, “một cảnh tượng huy hoàng và thần tiên hiện ra trước
mắt tôi. Một cảm giác lành lạnh đượm màu kính cẩn và sợ hãi đến với tôi. Tim
tôi đập mạnh. Tôi có cảm giác như vào trung tâm một giáo đường, một đường hầm
hỏa xa hay đúng hơn nữa là một vực thẳm…” (Lê Văn Kiểm – Phong Nha, đệ nhất kỳ
quan, 1942). Rực rỡ và u tối, đồ sộ và tỉ mỉ, cổ quái và thanh nhã, thánh thiện
và ác quỷ, sợ hãi và thích thú, kính cẩn và gần gũi … và còn vân vân nữa những
điều miêu tả và những cảm giác đối nghịch nhau đến kỳ lạ khi người ta nói về
cảnh đẹp Phong Nha…
TRIỆU NĂM TUỔI ĐÁ
Theo các nhà khoa học, quá trình phong hóa tạo thành hang động ở Phong Nha là
quá trình tự nhiên đã diễn ra từ cách đây 250 triệu năm. Dạng địa hình chính
của Phong Nha-Kẻ Bàng là núi đá vôi và núi đất, độ cao trung bình 600 mét,
thành hẹp, vách đứng. Động Phong Nha nằm ở phần đông nam khối núi đá vôi Kẻ
Bàng trong một vùng đá vôi bị phong hóa mạnh, diện tích khoảng 10.000 km2, kéo
dài 200 km trên phía bắc dãy Trường Sơn, thông cả sang Lào. Ở khối núi đá vôi này
có hiện tượng nước chảy ngầm. Dòng chảy trên mặt có thể nhìn thấy là các con
sông Son, Troóc, Chày, Rào Thương bắt nguồn từ các con suối nhỏ, đến hang Én
thì suối lớn chảy ngầm vào lòng núi đá vôi để tạo thành các hang động.
Nói nôm na đá vôi là một loại muối (muối CaCO3), bị a xít (axit H2CO3) hòa tan
và tạo thành thạch nhũ. Nước mưa hòa tan cacbônic (CO2) trong không khí tạo
thành axit yếu H2CO3; axit này thấm vào lỗ hổng của đá vôi tạo ra axit canxi
cacbonat Ca(HCO3)2. Axit canxi cacbonat rất dễ phân hủy, giải phóng nước trong
axit và chất còn lại là canxi cacbonat (CaCO3) –cũng chính là đá vôi, nhưng lúc
này mang hình dạng của thạch nhũ. Tùy theo hình dạng của dòng nước chảy mà
thạch nhũ cũng có những hình dạng khác nhau. Nước chảy, đá mòn! Sự xâm thực hóa
học đó của nước mưa vào đá vôi đã gây ra tình trạng cắt xẻ mãnh liệt ở các dãy
núi, khối núi, tạo thành những địa hình đa dạng: Lòng núi bị đào thành hang
động, đường hầm, sông ngầm, giếng sâu; các khối núi bị tách thành vách dựng
đứng và những cảnh tượng lạ lùng… Nói mấy câu nghe thì đơn giản vậy, nhưng quá
trình chế tác núi đá trở thành những kỳ quan thiên nhiên như thế này phải mất
cả vài trăm triệu năm; chạnh nghĩ đến việc cả một đời viết báo mới được đôi ba
chữ, công phu chẳng có đáng gì!
Sau khi thăm động nước Phong Nha, du khách thường đi thăm động khô là động Tiên
Sơn. Gọi Tiên Sơn là động khô vì nó không ăn thông với Phong Nha, mà “treo” ở
độ cao 200 mét trên trần động Phong Nha. Động Tiên Sơn dài 800 mét, là cặp song
sinh với động Phong Nha, cũng là tuyệt tác của thạch nhũ. Người ta bảo nếu
Phong Nha đẹp như thủy cung của vua Thủy Tề, thì Tiên Sơn đẹp như tiên giới của
Ngọc Hoàng thượng đế. Sông Son và động Phong Nha đã có câu chuyện cảm động về
vị đại sư cứu nhân độ thế, thì Tiên Sơn có chuyện về tình yêu giữa người con
trai dũng cảm của trần gian với nàng tiên giữ thanh bảo kiếm của nhà Trời.
Chàng trai đã một phen liều mình vượt núi cao vực thẳm đi tìm các tiên nữ để
mượn bảo kiếm về trừ diệt loài thủy quái đang làm hại dân lành. Thừa lúc các
nàng tiên trút bỏ xiêm y trên bờ để xuống suối tắm, chàng lén lấy được bảo
kiếm, nhờ đó diệt được yêu quái, trừ hại cho dân. Khi trở lại nơi ở của các
tiên nữ để trả kiếm thiêng, thấy tiên nữ nọ ngồi khóc mà không dám bay về Trời
vì tội để mất kiếm, chàng trai đã thổ lộ hết sự tình. Nghe xong, nàng tiên cảm
phục mà đem lòng yêu chàng, thạch động này từ đó trở thành nơi hò hẹn của hai
người. Thiên đình biết chuyện, bèn triệu tiên nữ về Trời để trừng phạt. Từ khi
về Trời, tiên nữ héo hắt đi vì nhớ chàng trai, còn chàng trai cũng đêm ngày
khắc khoải mong gặp tiên nữ. Tình cảm của họ đã làm động lòng Trời; Ngọc Hoàng
bèn sai các vị tiên tạo ra cho thạch động nơi đây có vẻ đẹp giống như thiên
đình và cho phép tiên nữ xuống trần kết duyên với chàng trai, mang theo cả bảo
kiếm để hai người chăm lo cuộc sống của muôn dân. Cho nên nói Tiên Sơn đẹp như
tiên giới là vậy…
Tôi nghĩ là những giải thích duy lý, khô khan và không dễ hiểu của các nhà khoa
học về cấu tạo đá vôi, quá trình ăn mòn đá vôi … để tạo ra hang động ở Phong
Nha-Kẻ Bàng không hề làm mất đi cái hứng thú của người đời khi nhìn ngắm những
cảnh đẹp nơi đây. Giống như khi các nhà khoa học thông báo Mặt trăng chỉ là một
khối đất đá lạnh lẽo, không có sự sống, thì loài người vẫn cứ làm thơ, làm văn,
ca hát về Mặt trăng như trước đó đã làm thơ, làm văn, ca hát về Chị Hằng, cung
Quảng, Thỏ Ngọc hay Chú Cuội ngồi gốc cây đa… Những khối đất đá vô tri, bị
phong hóa bào mòn qua hàng trăm triệu năm ở Phong Nha – Kẻ Bàng cũng đã được
sưởi ấm bằng những câu chuyện nói về con người; và nếu không có những chuyện
như vậy, thì Phong Nha- Tiên Sơn- Kẻ Bàng sẽ giảm đi vẻ đẹp rất nhiều. Cũng là
hòn đá vô tri, nhưng có duyên với nhau thì thành hòn Trống Mái ở Vịnh Hạ Long;
dìu dắt nhau như cha con thì là hòn Phụ Tử ở Kiên Giang, thủy chung chờ chồng
đến khổ đau mới gọi là hòn Vọng Phu ở Lạng Sơn và các tỉnh miền Trung khác…
Nguồn:
VQG Phong Nha – Kẻ Bàng
|